पवित्र कुरअानको अर्थको अनुवाद - पवित्र कुर्आनको संक्षिप्त व्याख्याको भियतनामी भाषामा अनुवाद । * - अनुवादहरूको सूची


अर्थको अनुवाद सूरः: सूरतुत्ताैबः   श्लोक:

Chương Al-Tawbah

सूरहका अभिप्रायहरूमध्ये:
البراءة من المشركين والمنافقين وجهادهم، وفتح باب التوبة للتائبين.
Vô can với những kẻ đa thần và những kẻ giả tạo đức tin, chiến đấu với họ, và mở ra cánh cửa sám hối cho những ai biết ăn năn hối cải

بَرَآءَةٞ مِّنَ ٱللَّهِ وَرَسُولِهِۦٓ إِلَى ٱلَّذِينَ عَٰهَدتُّم مِّنَ ٱلۡمُشۡرِكِينَ
Đây là lời tuyên bố hủy bỏ thỏa hiệp của Allah và Thiên Sứ của Ngài và là thông báo cuối cùng về những cuộc giao ước mà các ngươi - hỡi tín đồ Muslim - đã ký kết với người đa thần trong bán đảo Ả-rập.
अरबी व्याख्याहरू:
فَسِيحُواْ فِي ٱلۡأَرۡضِ أَرۡبَعَةَ أَشۡهُرٖ وَٱعۡلَمُوٓاْ أَنَّكُمۡ غَيۡرُ مُعۡجِزِي ٱللَّهِ وَأَنَّ ٱللَّهَ مُخۡزِي ٱلۡكَٰفِرِينَ
Các ngươi - hỡi những người đa thần - sẽ được tự do và bình an đi lại trong thời gian bốn tháng. Sau đó các ngươi sẽ không còn được bất cứ giao ước nào nữa và các ngươi hãy thức tỉnh đi rằng các ngươi sẽ không thoát khỏi hình phạt của Allah nếu các ngươi hãy còn tiếp tục trên sự vô đức tin nơi Ngài. Các ngươi hãy tin chắc rằng Allah sẽ hạ nhục những kẻ vô đức tin bằng sự giết chóc và tù đày ở trần gian và tiếp tục bị đày vào Hỏa Ngục ở Đời Sau. Và lệnh hủy bỏ này có hiệu lực với những ai đã phạm giao ước và những ai giao ước không giới hạn, riêng những ai giao ước có giới hạn hơn bốn tháng thì hãy duy trì giao ước đó cho đến thời gian đã ký kết.
अरबी व्याख्याहरू:
وَأَذَٰنٞ مِّنَ ٱللَّهِ وَرَسُولِهِۦٓ إِلَى ٱلنَّاسِ يَوۡمَ ٱلۡحَجِّ ٱلۡأَكۡبَرِ أَنَّ ٱللَّهَ بَرِيٓءٞ مِّنَ ٱلۡمُشۡرِكِينَ وَرَسُولُهُۥۚ فَإِن تُبۡتُمۡ فَهُوَ خَيۡرٞ لَّكُمۡۖ وَإِن تَوَلَّيۡتُمۡ فَٱعۡلَمُوٓاْ أَنَّكُمۡ غَيۡرُ مُعۡجِزِي ٱللَّهِۗ وَبَشِّرِ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ بِعَذَابٍ أَلِيمٍ
Một thông báo từ Allah và Thiên Sứ của Ngài gởi đến toàn thể những ai đang tập trung trong ngày Đại Lễ 'Eid giết tế rằng Allah Toàn Năng đoạn tuyệt quan hệ với người đa thần và Thiên Sứ của Ngài cũng thế. Nếu các ngươi - hỡi những người đa thần - biết hối cải về tội đa thần thì đó là điều tốt đẹp cho các ngươi, còn nếu các ngươi không chịu hối cải thì các ngươi hãy biết rằng các ngươi sẽ không thoát khỏi Allah, các ngươi sẽ không tránh được hình phạt của Ngài. Và Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy thông báo với những kẻ đã phủ nhận Allah rằng chúng sẽ phải đón nhận một hình phạt đau đớn đang chờ đón họ.
अरबी व्याख्याहरू:
إِلَّا ٱلَّذِينَ عَٰهَدتُّم مِّنَ ٱلۡمُشۡرِكِينَ ثُمَّ لَمۡ يَنقُصُوكُمۡ شَيۡـٔٗا وَلَمۡ يُظَٰهِرُواْ عَلَيۡكُمۡ أَحَدٗا فَأَتِمُّوٓاْ إِلَيۡهِمۡ عَهۡدَهُمۡ إِلَىٰ مُدَّتِهِمۡۚ إِنَّ ٱللَّهَ يُحِبُّ ٱلۡمُتَّقِينَ
Ngoại trừ những người đa thần nào giữ đúng giao ước với các ngươi, họ không phạm bất cứ điều gì từ giao ước, họ không phải trong số những người bị kết tội trước đó thì các ngươi hãy tiếp tục giữ tròn giao ước với họ cho đến hết thời hạn đã ký kết. Quả thật, Allah yêu thương nhóm người biết kính sợ mà tuân thủ đúng luật lệ của Ngài, trong đó có việc giữ tròn chữ tín, và tránh xa mọi điều Ngài cấm, trong đó gồm sự lường gạt.
अरबी व्याख्याहरू:
فَإِذَا ٱنسَلَخَ ٱلۡأَشۡهُرُ ٱلۡحُرُمُ فَٱقۡتُلُواْ ٱلۡمُشۡرِكِينَ حَيۡثُ وَجَدتُّمُوهُمۡ وَخُذُوهُمۡ وَٱحۡصُرُوهُمۡ وَٱقۡعُدُواْ لَهُمۡ كُلَّ مَرۡصَدٖۚ فَإِن تَابُواْ وَأَقَامُواْ ٱلصَّلَوٰةَ وَءَاتَوُاْ ٱلزَّكَوٰةَ فَخَلُّواْ سَبِيلَهُمۡۚ إِنَّ ٱللَّهَ غَفُورٞ رَّحِيمٞ
Khi những tháng cấm kỵ mà các ngươi đã không đụng chạm đến người đa thần kết thúc thì các ngươi hãy giết họ ở bất cứ nơi đâu mà các ngươi bắt gặp, hãy bắt họ, vây hãm họ trong thành trì của họ, và hãy tấn công họ trên mọi ngóc ngách. Nếu như họ biết sám hối quay về với Allah, chịu từ bỏ hành vi Shirk, chịu dâng lễ nguyện Salah và xuất Zakah từ tài sản của họ thì họ đã trở thành anh em của các ngươi trong Islam. Lúc đó, các ngươi hãy dừng ngay việc đánh chiến với họ bởi quả thật Allah luôn tha thứ và khoan dung đối với những ai biết ăn năn sám hối trong đám nô lệ của Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
وَإِنۡ أَحَدٞ مِّنَ ٱلۡمُشۡرِكِينَ ٱسۡتَجَارَكَ فَأَجِرۡهُ حَتَّىٰ يَسۡمَعَ كَلَٰمَ ٱللَّهِ ثُمَّ أَبۡلِغۡهُ مَأۡمَنَهُۥۚ ذَٰلِكَ بِأَنَّهُمۡ قَوۡمٞ لَّا يَعۡلَمُونَ
Và khi có người đa thần nào đã được phép xâm hại đến y lẫn tài sản của y tìm đến Ngươi - hỡi Thiên Sứ - xin được ở bên cạnh Ngươi thì Ngươi hãy chấp nhận thỉnh cầu đó để y có cơ hội lắng nghe Qur'an, sau đó Ngươi hãy đưa y đến nơi an toàn. Bởi lẽ người ngoại đạo không hiểu biết sự thật về Islam, nên khi họ nghe được Qur'an biết đâu họ sẽ được hướng dẫn.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• في الآيات دليل واضح على حرص الإسلام على تسوية العلاقات الخارجية مع الأعداء على أساس من السّلم والأمن والتّفاهم.
* Các câu Kinh là một bằng chứng rõ ràng về sự quan tâm của Islam đối với việc giải quyết các mối quan hệ đối ngoại với kẻ thù trên cơ sở hòa bình, an ninh và hiểu biết.

• الإسلام يُقَدِّر العهود، ويوجب الوفاء بها، ويجعل حفظها نابعًا من الإيمان، وملازمًا لتقوى الله تعالى.
* Islam rất xem trọng những giao ước và bắt buộc phải thực hiện đúng giao ước. Islam qui định việc giữ đúng giao ước là nguồn gốc giúp đức tin Iman phát triển và duy trì được lòng Taqwa (kính sợ Allah).

• أَنَّ إقامة الصّلاة وإيتاء الزّكاة دليل على الإسلام، وأنهما يعصمان الدّم والمال، ويوجبان لمن يؤدّيهما حقوق المسلمين من حفظ دمه وماله إلا بحق الإسلام؛ كارتكاب ما يوجب القتل من قتل النفس البريئة، وزنى الزّاني المُحْصَن، والرّدّة إلى الكفر بعد الإيمان.
* Việc dâng lễ nguyện Salah và xuất Zakah là bằng chứng biểu hiện tôn giáo Islam. Hai điều này bảo vệ một người không bị xâm hại đến sinh mạng và tài sản. Bắt buộc ai duy trì công lý Islam phải bảo vệ những ai hoàn thành hai bổn phận này ngoại trừ họ phạm giới luật Islam như cố ý giết người, ngoại tình sau khi có gia đình và bỏ đạo.

• مشروعيّة الأمان؛ أي: جواز تأمين الحربي إذا طلبه من المسلمين؛ ليسمع ما يدلّ على صحّة الإسلام، وفي هذا سماحة وتكريم في معاملة الكفار، ودليل على إيثار السِّلم.
* Cho phép quyền bảo an trong chiến tranh nếu kẻ thù thỉnh cầu phe Muslim, mục đích để họ có cơ hội nghe sự thật về Islam hơn. Qua hành động này thể hiện sự rộng lượng và tôn trọng mối quan hệ với người ngoại đạo và là bằng chứng rằng Islam luôn quan tâm việc duy trì hòa bình.

كَيۡفَ يَكُونُ لِلۡمُشۡرِكِينَ عَهۡدٌ عِندَ ٱللَّهِ وَعِندَ رَسُولِهِۦٓ إِلَّا ٱلَّذِينَ عَٰهَدتُّمۡ عِندَ ٱلۡمَسۡجِدِ ٱلۡحَرَامِۖ فَمَا ٱسۡتَقَٰمُواْ لَكُمۡ فَٱسۡتَقِيمُواْ لَهُمۡۚ إِنَّ ٱللَّهَ يُحِبُّ ٱلۡمُتَّقِينَ
Người đa thần không có thẩm quyền giao ước nghị hòa với Allah và Thiên Sứ của Ngài, ngoại trừ những giao ước đã ký với các ngươi - hỡi các đồ Muslim - tại Masjid Al-Haram (Makkah) trong lần nghị hòa Al-Hudaibiyah. Một khi họ vẫn duy trì tốt bản nghị hòa đó với các ngươi thì các ngươi hãy hoàn thành bổn phận với họ, các ngươi chớ có bội ước, quả thật Allah luôn yêu thương người ngay thẳng, những người mà họ chấp hành các mệnh lệnh của Ngài của Ngài và tránh xa những điều cấm của Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
كَيۡفَ وَإِن يَظۡهَرُواْ عَلَيۡكُمۡ لَا يَرۡقُبُواْ فِيكُمۡ إِلّٗا وَلَا ذِمَّةٗۚ يُرۡضُونَكُم بِأَفۡوَٰهِهِمۡ وَتَأۡبَىٰ قُلُوبُهُمۡ وَأَكۡثَرُهُمۡ فَٰسِقُونَ
Sao các ngươi lại nghị hòa với kẻ thù của các ngươi như thế? Trong khi chúng muốn chiến thắng các ngươi, chúng không hề tôn trọng các ngươi bao giờ, vả lại giữa các ngươi và chúng không hề có quan hệ họ hàng hay ràng buộc giao ước nào cả, đúng hơn là chúng muốn trừng phạt các ngươi bằng mọi cách có thể. Chúng nói chuyện mật ngọt chẳng qua để dụ các ngươi mà thôi chứ trong lòng của chúng không phải vậy đâu. Các ngươi chớ tin vào lời lẽ của chúng và đa số bọn chúng đã rời xa sự phục tùng Allah nhằm cố hủy bỏ giao ước.
अरबी व्याख्याहरू:
ٱشۡتَرَوۡاْ بِـَٔايَٰتِ ٱللَّهِ ثَمَنٗا قَلِيلٗا فَصَدُّواْ عَن سَبِيلِهِۦٓۚ إِنَّهُمۡ سَآءَ مَا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ
Chúng lấy việc đi theo các lời phán của Allah mang sắc lệnh thực hiện đúng giao ước để đổi những thứ rẻ mạt của trần gian nhằm thỏa mãn ham muốn và dục vọng của chúng. Chúng ngăn cản bản thân chúng đi theo chân lý, chúng ngoảnh mặt với chân lý và còn cản trở người khác đến với chân lý. Thật tồi tệ và xấu xa cho điều chúng làm.
अरबी व्याख्याहरू:
لَا يَرۡقُبُونَ فِي مُؤۡمِنٍ إِلّٗا وَلَا ذِمَّةٗۚ وَأُوْلَٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡمُعۡتَدُونَ
Chúng chưa từng tôn trọng Allah hay mối quan hệ họ hàng cũng như giao ước nghị hòa với những người có đức tin. Chúng luôn nung nóng hận thù và cố tình vượt giới luật của Allah; bởi bản chất của chúng vốn bất công và thù hằn.
अरबी व्याख्याहरू:
فَإِن تَابُواْ وَأَقَامُواْ ٱلصَّلَوٰةَ وَءَاتَوُاْ ٱلزَّكَوٰةَ فَإِخۡوَٰنُكُمۡ فِي ٱلدِّينِۗ وَنُفَصِّلُ ٱلۡأٓيَٰتِ لِقَوۡمٖ يَعۡلَمُونَ
Nếu như chúng biết hối cải về tội vô đức tin của mình, chịu tuyên thệ hai câu Shahadah, dâng lễ nguyện Salah, xuất Zakah từ tài sản của chúng thì chúng đã trở thành tín đồ Muslim và chúng là anh em đồng đạo với các ngươi, chúng có quyền lợi và nghĩa vụ như các ngươi, và các ngươi không được xâm phạm đến chúng, bởi Islam bảo vệ sinh mạng, tài sản và danh dự của chúng. Và TA (Allah) đã trình bày rõ các câu Kinh cho nhóm người có kiến thức bởi điều đó sẽ mang lại hữu ích cho họ và cho những người khác.
अरबी व्याख्याहरू:
وَإِن نَّكَثُوٓاْ أَيۡمَٰنَهُم مِّنۢ بَعۡدِ عَهۡدِهِمۡ وَطَعَنُواْ فِي دِينِكُمۡ فَقَٰتِلُوٓاْ أَئِمَّةَ ٱلۡكُفۡرِ إِنَّهُمۡ لَآ أَيۡمَٰنَ لَهُمۡ لَعَلَّهُمۡ يَنتَهُونَ
Và nếu những kẻ đa thần này đơn phương vi phạm giao ước chấm dứt chiến tranh đã ký kết với các ngươi và xúc phạm đến tôn giáo của các ngươi thì các ngươi hãy đánh toàn thể lãnh đạo vô đức tin đó, chúng chẳng còn bất cứ giao ước hay thỏa hiệp nào với các ngươi nữa. Hy vọng sau cuộc đánh này chúng biết dừng lại hành động vô đức tin của chúng cũng như về lỗi vì phạm giao ước và chúng biết tôn trọng tôn giáo.
अरबी व्याख्याहरू:
أَلَا تُقَٰتِلُونَ قَوۡمٗا نَّكَثُوٓاْ أَيۡمَٰنَهُمۡ وَهَمُّواْ بِإِخۡرَاجِ ٱلرَّسُولِ وَهُم بَدَءُوكُمۡ أَوَّلَ مَرَّةٍۚ أَتَخۡشَوۡنَهُمۡۚ فَٱللَّهُ أَحَقُّ أَن تَخۡشَوۡهُ إِن كُنتُم مُّؤۡمِنِينَ
Tại sao các ngươi - hỡi những người có đức tin - vẫn không chịu đánh những kẻ đã từng bội ước với các ngươi, chúng đã từng hội nghị bàn bạc cách trục xuất Thiên Sứ ra khỏi Makkah và chính chúng đã chủ động tấn công sát hại các ngươi trước, phải chăng các ngươi sợ bọn chúng mà không dám giao chiến với chúng? Đáng lẽ ra Allah mới xứng đáng để các ngươi kính sợ nếu các ngươi thật sự là người có đức tin Iman.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• دلَّت الآيات على أن قتال المشركين الناكثين العهد كان لأسباب كثيرة، أهمها: نقضهم العهد.
* Các câu Kinh là bằng chứng cho phép tấn công người đa thần với nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có lý do vi phạm giao ước đã ký kết.

• في الآيات دليل على أن من امتنع من أداء الصلاة أو الزكاة فإنه يُقاتَل حتى يؤديهما، كما فعل أبو بكر رضي الله عنه.
* Các câu Kinh là bằng chứng cho phép đấu tranh với những ai không chịu dâng lễ nguyện Salah, hoặc không xuất Zakah như ông Abu Bakr đã làm.

• استدل بعض العلماء بقوله تعالى:﴿وَطَعَنُوا فِي دِينِكُمْ﴾ على وجوب قتل كل من طعن في الدّين عامدًا مستهزئًا به.
Một số học giả lấy lời phán của Allah {Chúng xúc phạm tôn giáo của các ngươi} làm cơ sở cho việc bắt buộc phải giết những ai cố tình xúc phạm và nhạo báng tôn giáo.

• في الآيات دلالة على أن المؤمن الذي يخشى الله وحده يجب أن يكون أشجع الناس وأجرأهم على القتال.
* Các câu Kinh là bằng chứng rằng đối với những người có đức tin kính sợ một mình Allah cần phải là người gan dạ nhất và là người dũng cảm trong giao chiến với những kẻ thù vô đức tin.

قَٰتِلُوهُمۡ يُعَذِّبۡهُمُ ٱللَّهُ بِأَيۡدِيكُمۡ وَيُخۡزِهِمۡ وَيَنصُرۡكُمۡ عَلَيۡهِمۡ وَيَشۡفِ صُدُورَ قَوۡمٖ مُّؤۡمِنِينَ
Các ngươi - hỡi những người có đức tin - hãy đánh những kẻ đa thần này. Nếu các ngươi tấn công chúng, Allah sẽ trừng phạt chúng bằng chính đôi tay của các ngươi, đó là các ngươi sẽ giết chúng, hạ nhục chúng, và bắt chúng làm tù bình. Ngài sẽ phù hộ các ngươi chiến thắng được chúng và Ngài sẽ chữa lành nỗi đau trong lòng của nhứng người có đức tin không tham chiến chống lại kẻ thù, không có cơ hội chứng kiến cảnh kẻ thù bị thất bại và bị bắt làm tù binh.
अरबी व्याख्याहरू:
وَيُذۡهِبۡ غَيۡظَ قُلُوبِهِمۡۗ وَيَتُوبُ ٱللَّهُ عَلَىٰ مَن يَشَآءُۗ وَٱللَّهُ عَلِيمٌ حَكِيمٌ
Allah sẽ xua tan cơn thịnh nộ trong lòng đám nô lệ có đức tin của Ngài bằng sự chiến thắng mà họ đạt được, rồi Ngài sẽ chấp nhận sự sám hối của bất cứ ai Ngài muốn trong số những người chống đối nếu họ biết ăn năn hối cải như đã xảy ra với một số người ở Makkah trong ngày chinh phục giành chiến thắng. Quả thật Allah biết rõ ai thật lòng sám hối và Ngài sáng suốt trong việc tạo hóa, quản lý, ban hành luật.
अरबी व्याख्याहरू:
أَمۡ حَسِبۡتُمۡ أَن تُتۡرَكُواْ وَلَمَّا يَعۡلَمِ ٱللَّهُ ٱلَّذِينَ جَٰهَدُواْ مِنكُمۡ وَلَمۡ يَتَّخِذُواْ مِن دُونِ ٱللَّهِ وَلَا رَسُولِهِۦ وَلَا ٱلۡمُؤۡمِنِينَ وَلِيجَةٗۚ وَٱللَّهُ خَبِيرُۢ بِمَا تَعۡمَلُونَ
Lẽ nào các ngươi - hỡi những người có đức tin - cho rằng Allah sẽ không thử thách các ngươi ư? Trong khi thử thách là qui luật của Ngài, Ngài sẽ thử thách các ngươi để phân loại rõ ràng ai là nô lệ kiên cường chiến đấu vì Allah, ai là những chỉ chọn lấy Allah, Thiên Sứ của Ngài cũng như những người có đức tin làm đồng minh và không quan hệ thân thiết với những kẻ vô đức tin. Quả thật Allah luôn am tường mọi việc các ngươi làm, không có gì che giấu được Ngài và Ngài se dựa vào đó để thưởng phạt các ngươi.
अरबी व्याख्याहरू:
مَا كَانَ لِلۡمُشۡرِكِينَ أَن يَعۡمُرُواْ مَسَٰجِدَ ٱللَّهِ شَٰهِدِينَ عَلَىٰٓ أَنفُسِهِم بِٱلۡكُفۡرِۚ أُوْلَٰٓئِكَ حَبِطَتۡ أَعۡمَٰلُهُمۡ وَفِي ٱلنَّارِ هُمۡ خَٰلِدُونَ
Không thể chấp nhận việc để người đa thần quán xuyến các Masjid của Allah nơi để thờ phượng Ngài trong khi chúng hài lòng cho bản thân mình trên tình trạng vô đức tin qua các thể hiện bên ngoài của chúng. Mọi hành động thiện tốt của nhóm người đó đã bị hủy bỏ, không được chấp nhận vì chúng không có đức tin Iman và vào Ngày Phán Xét chúng sẽ phải vào Hỏa Ngục mà sống muôn đời ngoại trừ ai đã hối cải về tội đa thần của mình trước khi chết.
अरबी व्याख्याहरू:
إِنَّمَا يَعۡمُرُ مَسَٰجِدَ ٱللَّهِ مَنۡ ءَامَنَ بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ وَأَقَامَ ٱلصَّلَوٰةَ وَءَاتَى ٱلزَّكَوٰةَ وَلَمۡ يَخۡشَ إِلَّا ٱللَّهَۖ فَعَسَىٰٓ أُوْلَٰٓئِكَ أَن يَكُونُواْ مِنَ ٱلۡمُهۡتَدِينَ
Người xứng đáng quán xuyến các Masjid của Allah phải là những người có đức tin nơi một mình Allah và không đồng đẳng bất cứ ai cùng Ngài, tin nơi Đời Sau, hành lễ nguyện Salah, xuất Zakah và không sợ bất cứ ai ngoại trừ Allah Toàn Năng. Nhóm người này mới là những người thuộc nhóm người được hướng dẫn đến con đường chính đạo, còn những kẻ đa thần thì ở rất xa với điều đó.
अरबी व्याख्याहरू:
۞ أَجَعَلۡتُمۡ سِقَايَةَ ٱلۡحَآجِّ وَعِمَارَةَ ٱلۡمَسۡجِدِ ٱلۡحَرَامِ كَمَنۡ ءَامَنَ بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ وَجَٰهَدَ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِۚ لَا يَسۡتَوُۥنَ عِندَ ٱللَّهِۗ وَٱللَّهُ لَا يَهۡدِي ٱلۡقَوۡمَ ٱلظَّٰلِمِينَ
Hay là các ngươi - hỡi những người đa thần - xem việc phục vụ nước cho người hành hương Hajj và việc quán xuyến Masjid Al-Haram (ở Makkah) giống như ai có đức tin nơi Allah, không thờ phượng bất cứ ai (vật) cùng với Ngài, tin nơi Ngày Phán Xét, kiên cường đấu tranh bằng tài sản lẫn sinh mạng của mình để giơ cao lời phán của Allah và hạ thấp lời của những kẻ vô đức tin; các ngươi cho rằng cả hai ngang bằng nhau trước Allah sao? Đối với Allah, họ không hề ngang nhau và Allah không hề phù hộ những kẻ làm điều sai quấy qua hành động Shirk cho dù chúng có làm bao điều tốt đẹp như phục vụ nước cho người hành hương Hajj.
अरबी व्याख्याहरू:
ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَهَاجَرُواْ وَجَٰهَدُواْ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِ بِأَمۡوَٰلِهِمۡ وَأَنفُسِهِمۡ أَعۡظَمُ دَرَجَةً عِندَ ٱللَّهِۚ وَأُوْلَٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡفَآئِزُونَ
Những ai tập hợp giữa đức tin Iman nơi Allah, di cư từ vùng đất vô đức tin đến vùng đất Islam và kiên cường chiến đấu vì chính nghĩa của Allah bằng tài sản và sinh của mình se đạt được địa vị cao hơn những ai khác nơi Allah, họ là những người chiến thắng giành được Thiên Đàng.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• في الآيات دلالة على محبة الله لعباده المؤمنين واعتنائه بأحوالهم، حتى إنه جعل من جملة المقاصد الشرعية شفاء ما في صدورهم وذهاب غيظهم.
* Các câu Kinh thể hiện tình yêu của Allah dành cho đám nô lệ có đức tin của Ngài, họ được Ngài quan tâm mọi lúc, thậm chí câu Kinh còn hướng đến việc xua tan những căn bệnh và những khó chịu trong lòng ngực của họ.

• شرع الله الجهاد ليحصل به هذا المقصود الأعظم، وهو أن يتميز الصادقون الذين لا يتحيزون إلا لدين الله من الكاذبين الذين يزعمون الإيمان.
* Việc Allah ra lệnh Jihad là vì mục đích vĩ đại, đó là để phân biệt giữa những người trung thực vì tôn giáo của Ngài với những kẻ chỉ khoác lác đức tin Iman bằng cái mồm của chúng.

• عُمَّار المساجد الحقيقيون هم من وُصِفوا بالإيمان الصادق، وبالقيام بالأعمال الصالحة التي أُمُّها الصلاة والزكاة، وبخشية الله التي هي أصل كل خير.
* Người xứng đáng quán xuyến các Masjid là những ai được miêu tả có đức tin thực sự và luôn duy trì tốt các bổn phận hành đạo như lễ nguyện Salah, xuất Zakah và chỉ sợ một mình Allah, và đó là căn bản của mọi điều tốt đẹp.

• الجهاد والإيمان بالله أفضل من سقاية الحاج وعمارة المسجد الحرام بدرجات كثيرة؛ لأن الإيمان أصل الدين، وأما الجهاد في سبيل الله فهو ذروة سنام الدين.
* Việc Jihad và đức tin nơi Allah tốt hơn nhiều cấp bậc so với việc phục vụ nước cho người hành hương Hajj và quán xuyến Masjid Al-Haram ở Makkah, bởi đức tin mới chính là căn bản của tôn giáo và Jihad vì chính nghĩa của Allah là đỉnh cao của tôn giáo.

يُبَشِّرُهُمۡ رَبُّهُم بِرَحۡمَةٖ مِّنۡهُ وَرِضۡوَٰنٖ وَجَنَّٰتٖ لَّهُمۡ فِيهَا نَعِيمٞ مُّقِيمٌ
Họ được Allah báo cho biết tin mừng về lòng thương xót của Ngài, về sự hài lòng của Ngài đối với họ và Ngài sẽ không bao giờ phẫn nộ với họ, và họ được thu nhận vào Thiên Đàng, nơi mà họ sẽ hưởng được niềm hạnh phúc và sự khoái lạc bất tận.
अरबी व्याख्याहरू:
خَٰلِدِينَ فِيهَآ أَبَدًاۚ إِنَّ ٱللَّهَ عِندَهُۥٓ أَجۡرٌ عَظِيمٞ
Họ sẽ ở muôn đời trong những ngôi vườn Thiên Đàng đó, một phần thưởng cho việc làm ngoan đạo của họ ở trần gian. Quả thật, Allah có phần thưởng vĩ đại dành cho những ai biết phục tùng các mệnh lệnh của Ngài một cách thành tâm.
अरबी व्याख्याहरू:
يَٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ لَا تَتَّخِذُوٓاْ ءَابَآءَكُمۡ وَإِخۡوَٰنَكُمۡ أَوۡلِيَآءَ إِنِ ٱسۡتَحَبُّواْ ٱلۡكُفۡرَ عَلَى ٱلۡإِيمَٰنِۚ وَمَن يَتَوَلَّهُم مِّنكُمۡ فَأُوْلَٰٓئِكَ هُمُ ٱلظَّٰلِمُونَ
Hỡi những người có đức tin và noi theo những gì Thiên Sứ của Ngài mang đến, các ngươi chớ lấy tin mật của những người có đức tin hoặc những gì các ngươi bàn bạc với họ mang đưa cho cha mẹ cũng như anh em cùng huyết thống với các ngươi và những người thân thuộc trong họ hàng của các ngươi. Nếu các ngươi xem trọng sự vô đức tin hơn đức tin Iman nơi một mình Allah và nhất định chọn lấy những kẻ vô đức tin, các ngươi thương yêu chúng trong khi chúng vẫn ở trên tình trạng vô đức tin nơi Allah thì quả thật các ngươi đã nghịch lại Allah, đã bất công với bản thân mình, e là các ngươi đang đứng trên bờ của sự diệt vong.
अरबी व्याख्याहरू:
قُلۡ إِن كَانَ ءَابَآؤُكُمۡ وَأَبۡنَآؤُكُمۡ وَإِخۡوَٰنُكُمۡ وَأَزۡوَٰجُكُمۡ وَعَشِيرَتُكُمۡ وَأَمۡوَٰلٌ ٱقۡتَرَفۡتُمُوهَا وَتِجَٰرَةٞ تَخۡشَوۡنَ كَسَادَهَا وَمَسَٰكِنُ تَرۡضَوۡنَهَآ أَحَبَّ إِلَيۡكُم مِّنَ ٱللَّهِ وَرَسُولِهِۦ وَجِهَادٖ فِي سَبِيلِهِۦ فَتَرَبَّصُواْ حَتَّىٰ يَأۡتِيَ ٱللَّهُ بِأَمۡرِهِۦۗ وَٱللَّهُ لَا يَهۡدِي ٱلۡقَوۡمَ ٱلۡفَٰسِقِينَ
Ngươi hãy nói - hỡi Thiên Sứ -: Nếu các ngươi - hỡi những người có đức tin - xem cha mẹ, con cái, anh em, những người vợ, họ hàng thân thuộc, tài sản mà các ngươi tích lũy được, việc kinh doanh mà các ngươi muốn nhân rộng và lo sợ cho việc bị thua lỗ cũng như những căn nhà mà các ngươi hài lòng được sống trong nó hơn cả tình yêu dành cho Allah, cho Thiên Sứ của Ngài và việc Jihad vì chính nghĩa của Ngài thì các ngươi hãy chờ đợi hình phạt mà Allah sẽ giáng xuống trừng phạt các ngươi; và Allah không bao giờ phù hộ những kẻ rời khỏi sự phục tùng Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
لَقَدۡ نَصَرَكُمُ ٱللَّهُ فِي مَوَاطِنَ كَثِيرَةٖ وَيَوۡمَ حُنَيۡنٍ إِذۡ أَعۡجَبَتۡكُمۡ كَثۡرَتُكُمۡ فَلَمۡ تُغۡنِ عَنكُمۡ شَيۡـٔٗا وَضَاقَتۡ عَلَيۡكُمُ ٱلۡأَرۡضُ بِمَا رَحُبَتۡ ثُمَّ وَلَّيۡتُم مُّدۡبِرِينَ
Quả thật, Allah đã phù hộ các ngươi, hỡi những người có đức tin, chiến thắng kẻ thù của các người từ những kẻ đa thần trong các cuộc chinh chiến mặc dù lực lượng của các ngươi ít và yếu, do các ngươi biết phó thác cho Allah sau khi đã tìm lấy các nguyên nhân, và không ngạo mạn, kiêu hãnh về số lượng đông đảo của mình. Bởi lẽ số lượng đông đảo không phải yếu tố giúp các ngươi chiến thắng. Các ngươi hãy nhớ lại trận chiến Hunain, các ngươi đã kiêu hãnh về lực lượng hùng hậu của mình, các ngươi nói "Ngày hôm nay, chúng ta sẽ không bị đánh bại bởi một lực lượng nhỏ" Nhưng lực lượng hùng hậu mà các ngươi đắc chí nào giúp ích được cho các ngươi, kẻ thù đã đánh bại các ngươi, lúc đó, các ngươi cảm thấy trái bị đất thu hẹp lại trong khi nó vẫn rộng thênh thang, và các ngươi đã quay lưng tháo chạy.
अरबी व्याख्याहरू:
ثُمَّ أَنزَلَ ٱللَّهُ سَكِينَتَهُۥ عَلَىٰ رَسُولِهِۦ وَعَلَى ٱلۡمُؤۡمِنِينَ وَأَنزَلَ جُنُودٗا لَّمۡ تَرَوۡهَا وَعَذَّبَ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْۚ وَذَٰلِكَ جَزَآءُ ٱلۡكَٰفِرِينَ
Sau khi các ngươi bỏ chạy trốn kẻ thù thì Allah đã trấn an tấm lòng Thiên Sứ của Ngài và cả những người có đức tin, Ngài giữ vững bước chân họ trên sa trường, Ngài phái xuống một đoàn thiên binh mà các ngươi không nhìn thấy và Ngài đã trừng phạt những kẻ vô đức tin bằng những gì đã xảy ra với chúng từ việc bị giết, bị bắt làm tù binh, bị giành lấy tài sản, bị đầy làm nô lệ. Đó là phần phạt dành cho những kẻ vô đức tin đã phủ nhận những gì mà Thiên Sứ đã mang đến cho họ.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• مراتب فضل المجاهدين كثيرة، فهم أعظم درجة عند الله من كل ذي درجة، فلهم المزية والمرتبة العلية، وهم الفائزون الظافرون الناجون، وهم الذين يبشرهم ربهم بالنعيم.
* Những cấp bậc xứng đáng dành cho người Jihad, cấp bậc của họ là cấp bậc vĩ đại nhất đối với Allah, họ được ưu ái hơn những ai khác, họ sẽ giành chiến thắng và được Allah báo tin vui về Thiên Đàng hạnh phúc.

• في الآيات أعظم دليل على وجوب محبة الله ورسوله، وتقديم هذه المحبة على محبة كل شيء.
* Các câu Kinh là bằng chứng bắt buộc phải đặt tình yêu cho Allah và Thiên Sứ của Ngài lên trên tất cả mọi tình yêu khác.

• تخصيص يوم حنين بالذكر من بين أيام الحروب؛ لما فيه من العبرة بحصول النصر عند امتثال أمر الله ورسوله صلى الله عليه وسلم وحصول الهزيمة عند إيثار الحظوظ العاجلة على الامتثال.
* Việc chỉ nhắc về trận chiến Hunain mà không nhắc đến các trận chiến khác là vì trong nó có rất nhiều bài học quí báu giúp chiến thắng kẻ thù, đó là sẽ đạt được chiến thắng khi biết tuân lệnh Allah và phục tùng Thiên Sứ của Ngài, ngược lại sẽ bị thất bại khi nghịch lại mệnh lệnh của Allah và Thiên Sứ của Ngài.

• فضل نزول السكينة، فسكينة الرسول صلى الله عليه وسلم سكينة اطمئنان على المسلمين الذين معه وثقة بالنصر، وسكينة المؤمنين سكينة ثبات وشجاعة بعد الجَزَع والخوف.
* Giá trị của sự điềm tĩnh, với sự điềm tĩnh củaThiên Sứ và tín đồ Muslim lúc lâm trận giúp họ tin tưởng tuyệt đối vào chiến thắng, sự điềm tĩnh còn giúp những người có đức tin trở nên kiên cường, dũng cảm và trụ vững trên sa trường sau khi đã hoảng loạn và sợ hãi.

ثُمَّ يَتُوبُ ٱللَّهُ مِنۢ بَعۡدِ ذَٰلِكَ عَلَىٰ مَن يَشَآءُۗ وَٱللَّهُ غَفُورٞ رَّحِيمٞ
Rồi ai biết hối cải về tội vô đức tin và lầm lạc của mình sau sự trừng phạt đó thì y sẽ được Allah chấp nhận sự sám hối, vì Allah luôn tha thứ cho ai biết hối cải trong đám nô lệ của Ngài và Ngài khoan dung với họ mặc dù họ đã vô đức tin và đại nghịch với Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
يَٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُوٓاْ إِنَّمَا ٱلۡمُشۡرِكُونَ نَجَسٞ فَلَا يَقۡرَبُواْ ٱلۡمَسۡجِدَ ٱلۡحَرَامَ بَعۡدَ عَامِهِمۡ هَٰذَاۚ وَإِنۡ خِفۡتُمۡ عَيۡلَةٗ فَسَوۡفَ يُغۡنِيكُمُ ٱللَّهُ مِن فَضۡلِهِۦٓ إِن شَآءَۚ إِنَّ ٱللَّهَ عَلِيمٌ حَكِيمٞ
Hỡi những người có tin nơi Allah, nơi Thiên Sứ của Ngài và đã tuân thủ theo giáo luật của Ngài! Thật vậy, những kẻ đa thần là những kẻ không sạch sẽ bởi sự vô đức tin, hành động sai quấy, bản chất xấu xa và phong tục thối nát của chúng. Cho nên chúng không được phép đến gần vùng đất linh thiêng Makkah - trong đó có Masjid Al-Haram - kể từ năm nay trở đi, đó là năm thứ 9 lịch Islam, cho dù chúng đến để hành hương Hajj và 'Umrah. Nếu các ngươi - hỡi những người có đức tin - sợ nghèo khổ vì chấm dứt mọi nguồn cung cấp lương thực và các nguồn thương mại khác thì Allah sẽ bù đắp đầy đủ cho các ngươi bằng nguồn thiên lộc của Ngài. Quả thật Allah luôn tận tường mọi hoàn cảnh của các ngươi, luôn sáng suốt trong việc quản lý các ngươi.
अरबी व्याख्याहरू:
قَٰتِلُواْ ٱلَّذِينَ لَا يُؤۡمِنُونَ بِٱللَّهِ وَلَا بِٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ وَلَا يُحَرِّمُونَ مَا حَرَّمَ ٱللَّهُ وَرَسُولُهُۥ وَلَا يَدِينُونَ دِينَ ٱلۡحَقِّ مِنَ ٱلَّذِينَ أُوتُواْ ٱلۡكِتَٰبَ حَتَّىٰ يُعۡطُواْ ٱلۡجِزۡيَةَ عَن يَدٖ وَهُمۡ صَٰغِرُونَ
Hỡi những người có đức tin - các ngươi hãy đánh chiến với những kẻ vô đức tin trong số những người Do Thái và Thiên Chúa, những kẻ đã không tin Allah là Thượng Đế duy nhất, không có đối tác cùng Ngài, cũng không tin vào Đời Sau, không tránh xa những thứ Allah và Thiên Sứ của Ngài đã cấm như xác chết, thịt heo, rượu, cờ bạc, vay lãi, và những thứ khác, và không chịu phục tùng theo các giáo luật của Allah. Các ngươi hãy đánh chúng cho đến khi nào chúng chịu cúi đầu giao nộp thuế thân bằng đôi tay thấp hèn của chúng.
अरबी व्याख्याहरू:
وَقَالَتِ ٱلۡيَهُودُ عُزَيۡرٌ ٱبۡنُ ٱللَّهِ وَقَالَتِ ٱلنَّصَٰرَى ٱلۡمَسِيحُ ٱبۡنُ ٱللَّهِۖ ذَٰلِكَ قَوۡلُهُم بِأَفۡوَٰهِهِمۡۖ يُضَٰهِـُٔونَ قَوۡلَ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ مِن قَبۡلُۚ قَٰتَلَهُمُ ٱللَّهُۖ أَنَّىٰ يُؤۡفَكُونَ
Quả thật, tất cả dân Do Thái và Thiên Chúa đều phạm tội Shirk, Do Thái thì cho rằng 'Uzair (Ezra) là con trai của Allah, còn Thiên Chúa thì cho rằng Al-Masih Ysa tức Giê-su là con trai của Allah. Đó quả là những lời nói khống không có cơ sở, nó chỉ được thốt ra từ cửa miệng của chúng, lời nói của chúng giống như những thế hệ trước chúng đã nói "Chính Thiên Thần là những đứa con gái của Allah" nhưng Allah tối thượng hơn mọi thứ chúng gán ghép cho Ngài. Chúng đã bị Allah tiêu diệt. Làm sao mà chúng lại lệch khỏi chân lý để sa lầy vào lầm lạc đến thế cơ chứ!
अरबी व्याख्याहरू:
ٱتَّخَذُوٓاْ أَحۡبَارَهُمۡ وَرُهۡبَٰنَهُمۡ أَرۡبَابٗا مِّن دُونِ ٱللَّهِ وَٱلۡمَسِيحَ ٱبۡنَ مَرۡيَمَ وَمَآ أُمِرُوٓاْ إِلَّا لِيَعۡبُدُوٓاْ إِلَٰهٗا وَٰحِدٗاۖ لَّآ إِلَٰهَ إِلَّا هُوَۚ سُبۡحَٰنَهُۥ عَمَّا يُشۡرِكُونَ
Người Do Thái đã suy tôn các học giả của họ và người Thiên Chúa thì suy tôn các thầy tu của họ như những thượng đế thay vì Allah. Những kẻ được suy tôn đó đã thay đổi những thứ Allah cấm thành những thứ cho phép và những thứ Allah cho phép thành những thứ cấm. Người Thiên Chúa đã suy tôn Al-Masih Ysa (Giê-su) con trai của Maryam như một thượng đế cùng với Allah. Allah không ra lệnh cho các học giả Do Thái, các thầy tu Thiên Chúa, 'Uzair và Ysa con trai của Maryam ngoại trừ họ phải hết lòng thờ phượng duy nhất một mình Ngài, tuyệt đối không tổ hợp bất cứ thứ gì với Ngài. Ngài là Thượng Đế Hiển Vinh, không có Thượng Đế đích thực nào khác ngoài Ngài, Ngài tối cao và linh thiêng với tất cả mọi thứ mà những kẻ đa thần và những kẻ khác ngoài họ đã gán ghép cho Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• في الآيات دليل على أن تعلق القلب بأسباب الرزق جائز، ولا ينافي التوكل.
* Các câu Kinh là bằng chứng cho phép việc liên tưởng đến những nguyên nhân bổng lộc nhưng không xóa đi lòng ủy thác cho Allah.

• في الآيات دليل على أن الرزق ليس بالاجتهاد، وإنما هو فضل من الله تعالى تولى قسمته.
* Các câu Kinh là bằng chứng rằng bổng lộc không do sự nỗ lực mang đến mà là do Allah phân chia theo ý Ngài.

• الجزية واحد من خيارات ثلاثة يعرضها الإسلام على الأعداء، يقصد منها أن يكون الأمر كله للمسلمين بنزع شوكة الكافرين.
* Nộp thuế thân là một trong ba điều khoản trưng bày cho kẻ thù khi họ không chấp nhận Islam, mục địch để toàn thể tín đồ Muslim đồng lòng nhổ bỏ cái gai của những người vô đức tin.

• في اليهود من الخبث والشر ما أوصلهم إلى أن تجرؤوا على الله، وتنقَّصوا من عظمته سبحانه.
* Trong đám người Do Thái ẩn chứa sự thối nát và xấu xa khiến họ dám xúc phạm đến Allah và đánh giá thấp về sự vĩ đại của Ngài.

يُرِيدُونَ أَن يُطۡفِـُٔواْ نُورَ ٱللَّهِ بِأَفۡوَٰهِهِمۡ وَيَأۡبَى ٱللَّهُ إِلَّآ أَن يُتِمَّ نُورَهُۥ وَلَوۡ كَرِهَ ٱلۡكَٰفِرُونَ
Những kẻ vô đức tin này và những kẻ vô đức tin khác đã vu khống và phủ nhận mọi thứ được Muhammad mang đến để hủy hoại Islam. Chúng phủ nhận những bằng chứng rõ rệt cũng như những chứng cứ thuyết phục khẳng định tính duy nhất của Allah được mang đến cho chúng và chúng phủ nhận mọi sự thật mà Thiên Sứ của Ngài mang đến. Tuy nhiên Allah vẫn hoàn thành tôn giáo của Ngài, vẫn phơi bày nó và nâng nó lên đỉnh cao của vinh quang mặc cho những kẻ người vô đức tin cay ghét và khó chịu. Và một khi Allah muốn điều gì thì mọi ý muốn khác đều vô giá trị.
अरबी व्याख्याहरू:
هُوَ ٱلَّذِيٓ أَرۡسَلَ رَسُولَهُۥ بِٱلۡهُدَىٰ وَدِينِ ٱلۡحَقِّ لِيُظۡهِرَهُۥ عَلَى ٱلدِّينِ كُلِّهِۦ وَلَوۡ كَرِهَ ٱلۡمُشۡرِكُونَ
Và Allah Toàn Năng là Đấng đã gởi Thiên Sứ Muhammad của Ngài mang Qur'an, một nguồn hướng dẫn nhân loại, một tôn giáo chân lý - đó là tôn giáo Islam - để nâng cao nó qua các chứng cứ, các bằng chứng và những giáo lý vượt trội hơn tất cả tôn giáo khác, mặc cho những kẻ đa thần luôn ghét điều đó.
अरबी व्याख्याहरू:
۞ يَٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُوٓاْ إِنَّ كَثِيرٗا مِّنَ ٱلۡأَحۡبَارِ وَٱلرُّهۡبَانِ لَيَأۡكُلُونَ أَمۡوَٰلَ ٱلنَّاسِ بِٱلۡبَٰطِلِ وَيَصُدُّونَ عَن سَبِيلِ ٱللَّهِۗ وَٱلَّذِينَ يَكۡنِزُونَ ٱلذَّهَبَ وَٱلۡفِضَّةَ وَلَا يُنفِقُونَهَا فِي سَبِيلِ ٱللَّهِ فَبَشِّرۡهُم بِعَذَابٍ أَلِيمٖ
Hỡi những người có đức tin và tuân thủ đúng theo giáo luật của Allah! Quả thật, có rất nhiều học giả Do Thái và nhiều thầy tu Thiên Chúa đã chiếm lấy tài sản của thiên hạ một cách bất chính như hối lộ và những cách ăn chặn khác. Ngoài ra, chúng còn ngăn cản thiên hạ gia nhập vào tôn giáo của Allah. Và những ai tích lũy vàng và bạc nhưng không chịu thực hiện bổn phận Zakah, Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy cho chúng biết về hậu quả mà chúng phải gặp ở Đời Sau, đó là một cực hình đau đớn.
अरबी व्याख्याहरू:
يَوۡمَ يُحۡمَىٰ عَلَيۡهَا فِي نَارِ جَهَنَّمَ فَتُكۡوَىٰ بِهَا جِبَاهُهُمۡ وَجُنُوبُهُمۡ وَظُهُورُهُمۡۖ هَٰذَا مَا كَنَزۡتُمۡ لِأَنفُسِكُمۡ فَذُوقُواْ مَا كُنتُمۡ تَكۡنِزُونَ
Vào Ngày Tận Thế, tất cả những tài sản tích trữ mà những kẻ không chịu xuất Zakah sẽ được đem nung trong Hỏa Ngục cho đến khi đỏ rực thì chúng được lấy ra mà dán lên trán, lên hông và lên lưng của những kẻ đó, và chúng được bảo: Đây là tài sản mà các ngươi đã tích trữ nhưng không chịu hoàn thành bổn phận Zakah, vì thế, các ngươi hãy nếm lấy thứ mà các ngươi đã ôm chặt trong người, đây là hậu quả của việc làm đó.
अरबी व्याख्याहरू:
إِنَّ عِدَّةَ ٱلشُّهُورِ عِندَ ٱللَّهِ ٱثۡنَا عَشَرَ شَهۡرٗا فِي كِتَٰبِ ٱللَّهِ يَوۡمَ خَلَقَ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضَ مِنۡهَآ أَرۡبَعَةٌ حُرُمٞۚ ذَٰلِكَ ٱلدِّينُ ٱلۡقَيِّمُۚ فَلَا تَظۡلِمُواْ فِيهِنَّ أَنفُسَكُمۡۚ وَقَٰتِلُواْ ٱلۡمُشۡرِكِينَ كَآفَّةٗ كَمَا يُقَٰتِلُونَكُمۡ كَآفَّةٗۚ وَٱعۡلَمُوٓاْ أَنَّ ٱللَّهَ مَعَ ٱلۡمُتَّقِينَ
Quả thật, số lượng tháng trong một năm được giáo lý của Allah qui định là gồm mười hai tháng. Điều đó đã được ghi rõ ràng trong Quyển Sổ Mẹ nơi Ngài trước khi trời đất được khởi tạo. Trong số mười hai tháng này có bốn tháng cấm kỵ vì Allah cấm giao chiến trong những tháng này. Bốn tháng cấm kỵ này gồm ba tháng liền nhau: Zdul Qa'dah, Zdul Hijjah và Muharram tức tháng11, 12 và tháng giêng theo lịch Islam và một tháng không liền khác, đó là Rajab tức tháng 7. Việc liệt kê ra số lượng tháng trong năm cũng như qui định bốn tháng cấm kỵ là một tôn giáo chính thống. Bởi thế, các ngươi chớ làm điều bất công cho bản thân các ngươi trong các tháng cấm kỵ này bằng sự giết chóc lẫn nhau. Và các ngươi hãy chiến đấu với tất cả những kẻ đa thần giống như chúng chiến đấu với tất cả các ngươi. Và các ngươi hãy nên biết là Allah luôn ở bên giúp đỡ và phù hộ những ai ngay chính tuân thủ đúng mọi mệnh lệnh của Ngài; và những ai được Allah bên cạnh thì không bao giờ thất bại.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• دين الله ظاهر ومنصور مهما سعى أعداؤه للنيل منه حسدًا من عند أنفسهم.
* Tôn giáo của Allah luôn được thể hiện và giành thắng lợi cho dù kẻ thù có cố gắng ngăn chặn bằng lòng ganh tỵ và căm thù của bọn chúng.

• تحريم أكل أموال الناس بالباطل، والصد عن سبيل الله تعالى.
* Cấm chiếm lấy tiền của thiên hạ một cách bất chính cũng như cấm cản trở con đường của Allah.

• تحريم اكتناز المال دون إنفاقه في سبيل الله.
* Cấm việc chỉ biết tích trữ của cải mà không chi dùng cho con đường chính nghĩa của Allah.

• الحرص على تقوى الله في السر والعلن، خصوصًا عند قتال الكفار؛ لأن المؤمن يتقي الله في كل أحواله.
* Cố gắng duy trì lòng kính sợ Allah dù trước công chúng hay ở riêng một mình, đặc biệt là lúc chiến đấu với người vô đức tin, bởi người có đức tin thực sự luôn kính sợ Allah trong mọi hoàn cảnh.

إِنَّمَا ٱلنَّسِيٓءُ زِيَادَةٞ فِي ٱلۡكُفۡرِۖ يُضَلُّ بِهِ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ يُحِلُّونَهُۥ عَامٗا وَيُحَرِّمُونَهُۥ عَامٗا لِّيُوَاطِـُٔواْ عِدَّةَ مَا حَرَّمَ ٱللَّهُ فَيُحِلُّواْ مَا حَرَّمَ ٱللَّهُۚ زُيِّنَ لَهُمۡ سُوٓءُ أَعۡمَٰلِهِمۡۗ وَٱللَّهُ لَا يَهۡدِي ٱلۡقَوۡمَ ٱلۡكَٰفِرِينَ
Quả thật, việc dời sự cấm kỵ của tháng cấm kỵ đến tháng không cấm kỵ nhằm thay thế vị trí của tháng - giống như người Ả-rập đã thường làm ở thời tiền Islam - chỉ gia tăng sự vô đức tin cho những kẻ vốn đã không tin Allah vì họ đã không tin vào giáo lý cấm kỵ đó. Từ đó Shaytan mê hoặc những kẻ vô đức tin này bằng chính cách xấu xa này, chúng đã thay đổi tháng cấm kỵ bằng những tháng khác để cho đủ số lượng tháng cấm kỵ mà Allah đã cấm mặc dù có khác về vị trí của tháng. Cho nên, không được cấm bất cứ tháng nào ngoại trừ tháng mà Allah đã cấm, không được phép làm những gì Allah đã cấm trong các tháng cấm đó xem như các ngươi đã vi phạm lệnh cấm của Ngài. Shaytan tác động chúng làm chúng tưởng việc làm xấu xa của chúng là tốt nên chúng đã duy trì. Và Allah không bao giờ hướng dẫn những kẻ ngoan cố trong sự vô đức tin của chúng.
अरबी व्याख्याहरू:
يَٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ مَا لَكُمۡ إِذَا قِيلَ لَكُمُ ٱنفِرُواْ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِ ٱثَّاقَلۡتُمۡ إِلَى ٱلۡأَرۡضِۚ أَرَضِيتُم بِٱلۡحَيَوٰةِ ٱلدُّنۡيَا مِنَ ٱلۡأٓخِرَةِۚ فَمَا مَتَٰعُ ٱلۡحَيَوٰةِ ٱلدُّنۡيَا فِي ٱلۡأٓخِرَةِ إِلَّا قَلِيلٌ
Hỡi những người có đức tin nơi Allah, nơi Thiên Sứ của Ngài và tuân thủ theo giáo luật của Ngài! Các ngươi bị sao thế, tại sao khi các ngươi được kêu gọi đi Jihad vì chính nghĩa của Allah để giết kẻ thù của các ngươi thì các ngươi lại lười biếng, chán ngán chỉ muốn bám lấy ngôi nhà của các ngươi như thế? Phải chăng các ngươi đã hài lòng với những vật chất sớm tiêu vong và sự hưởng thụ tạm bợ đó thay vì cuộc sống hạnh phúc mãi mãi ở Đời Sau đã được Allah chuẩn bị sẵn cho những người chiến đấu trên đường chính nghĩa của Ngài ư? Quả thật, vật chất của cuộc sống trần gian này so với cuộc sống Đời Sau chỉ là những thứ đáng khinh, làm sao người khôn ngoan lại lựa chọn thứ tạm bợ thay vì thứ trường tồn, chọn thứ rẻ mạt thay vì thứ quí giá?!
अरबी व्याख्याहरू:
إِلَّا تَنفِرُواْ يُعَذِّبۡكُمۡ عَذَابًا أَلِيمٗا وَيَسۡتَبۡدِلۡ قَوۡمًا غَيۡرَكُمۡ وَلَا تَضُرُّوهُ شَيۡـٔٗاۗ وَٱللَّهُ عَلَىٰ كُلِّ شَيۡءٖ قَدِيرٌ
Nếu các ngươi - hỡi những người có đức tin - không chịu đi ra tham gia Jihad vì chính nghĩa của Allah để đánh kẻ thù của các ngươi thì Ngài sẽ trừng phạt các ngươi bằng cực hình và sỉ nhục các ngươi, và rồi Ngài sẽ thay thế các ngươi bằng một nhóm người khác luôn phục tùng Allah, một nhóm người mà khi được Ngài yêu cầu xuất binh Jihad thì họ liền xuất binh. Tất nhiên các ngươi không thể gây thiệt hại cho Allah khi các ngươi nghịch lệnh Ngài, bởi Ngài giàu có, bất cần các ngươi, chỉ có các ngươi mới là những kẻ nghèo khổ luôn cần đến Ngài. Và Allah toàn năng trên tất cả mọi thứ, không có gì làm khó Ngài và Ngài thừa sức ban chiến thắng cho tôn giáo của Ngài cũng như vị Thiên Sứ của Ngài mà không cần đến các ngươi.
अरबी व्याख्याहरू:
إِلَّا تَنصُرُوهُ فَقَدۡ نَصَرَهُ ٱللَّهُ إِذۡ أَخۡرَجَهُ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ ثَانِيَ ٱثۡنَيۡنِ إِذۡ هُمَا فِي ٱلۡغَارِ إِذۡ يَقُولُ لِصَٰحِبِهِۦ لَا تَحۡزَنۡ إِنَّ ٱللَّهَ مَعَنَاۖ فَأَنزَلَ ٱللَّهُ سَكِينَتَهُۥ عَلَيۡهِ وَأَيَّدَهُۥ بِجُنُودٖ لَّمۡ تَرَوۡهَا وَجَعَلَ كَلِمَةَ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ ٱلسُّفۡلَىٰۗ وَكَلِمَةُ ٱللَّهِ هِيَ ٱلۡعُلۡيَاۗ وَٱللَّهُ عَزِيزٌ حَكِيمٌ
Nếu các ngươi - hỡi những người có đức tin - không chịu phò trợ Thiên Sứ của Allah và không đáp lại lời kêu gọi Jihad của Y cho con đường chính nghĩa của Ngài thì các ngươi hãy biết rằng quả thật Allah đã phù hộ Thiên Sứ của Ngài và Abu Bakr mà không cần đến các ngươi khi cả hai bị nhóm đa thần trục xuất khỏi Makkah, không có người thứ ba bên cạnh khi cả hai đang lẫn trốn trong hang núi Thawr trước sự truy sát của kẻ thù. Lúc Abu Bakr thấy kẻ thù đang đứng ngay ngoài miệng hang làm y lo sợ thì Thiên Sứ của TA đã trấn an: "Anh đừng lo sợ, quả thật Allah đang bên cạnh bảo vệ và phù hộ chúng ta". Thế là Allah ban xuống cho Thiên Sứ của Ngài sự điềm tĩnh trong tim và phái xuống một đoàn Thiên Binh để phò trợ Y nhưng các ngươi không nhìn thấy và Ngài đã hạ thấp tin thần của những kẻ đa thần và Ngài nâng cao lời phán của Ngài khi Islam chạm đến đỉnh cao của vinh quang. Và Allah toàn năng trong vương quyền và uy thế của Ngài, không ai chiến thắng được Ngài và Ngài luôn sáng suốt trong việc thống trị, chi phối và định đoạt.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• العادات المخالفة للشرع بالاستمرار عليها دونما إنكار لها يزول قبحها عن النفوس، وربما ظُن أنها عادات حسنة.
* Những thói quen trái nghịch với giáo lý Islam khi được duy trì mà không bị lên án và chỉ trích lâu dần sẽ khiến bản thân ngộ nhận đó là thói quen tốt đẹp.

• عدم النفير في حال الاستنفار من كبائر الذنوب الموجبة لأشد العقاب، لما فيها من المضار الشديدة.
* Việc không chịu tham gia chinh chiến khi có lời kêu gọi chinh chiến là một trong những đại tội, phải chịu trừng phạt bằng cực hình bởi nó dẫn đến nhiều nguy hại lớn.

• فضيلة السكينة، وأنها من تمام نعمة الله على العبد في أوقات الشدائد والمخاوف التي تطيش فيها الأفئدة، وأنها تكون على حسب معرفة العبد بربه، وثقته بوعده الصادق، وبحسب إيمانه وشجاعته.
* Giá trị của sự điềm tĩnh, đó là hông phúc mà Allah ban cho người nô lệ trong những thời khắc làm con tim hoảng loạn vì đứng trước hoàn cảnh thập tử nhất sin. Tuy nhiên, điều này phụ thuộc vào niềm tin của người nô lệ đối với Thượng Đế y, phụ thuộc vào lòng tin nơi lời hứa của Ngài và phụ thuộc vào lòng gan dạ của bản thân.

• أن الحزن قد يعرض لخواص عباد الله الصدِّيقين وخاصة عند الخوف على فوات مصلحة عامة.
* Quả thật, sự buồn khổ đôi khi xảy ra với một số nô lệ trung thực của Allah, đặc biệt là những lúc họ lo sợ cho sự mất mát các lợi ích chung của cộng đồng.

ٱنفِرُواْ خِفَافٗا وَثِقَالٗا وَجَٰهِدُواْ بِأَمۡوَٰلِكُمۡ وَأَنفُسِكُمۡ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِۚ ذَٰلِكُمۡ خَيۡرٞ لَّكُمۡ إِن كُنتُمۡ تَعۡلَمُونَ
Các ngươi - hỡi những người có đức tin - hãy ra đi Jihad vì chính nghĩa của Allah dù trong hoàn cảnh khó khăn hay phồn thịnh, dù là thanh niên hay đã già, các ngươi hãy đấu tranh bằng tài sản và cả sinh mạng của các ngươi. Quả thật, việc các ngươi ra đi Jihad bằng tài sản và sinh mạng sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho cuộc sống trần gian và cả Đời Sau nếu các ngươi nhận biết được điều đó, các ngươi hãy cố mà tuân lệnh.
अरबी व्याख्याहरू:
لَوۡ كَانَ عَرَضٗا قَرِيبٗا وَسَفَرٗا قَاصِدٗا لَّٱتَّبَعُوكَ وَلَٰكِنۢ بَعُدَتۡ عَلَيۡهِمُ ٱلشُّقَّةُۚ وَسَيَحۡلِفُونَ بِٱللَّهِ لَوِ ٱسۡتَطَعۡنَا لَخَرَجۡنَا مَعَكُمۡ يُهۡلِكُونَ أَنفُسَهُمۡ وَٱللَّهُ يَعۡلَمُ إِنَّهُمۡ لَكَٰذِبُونَ
Với bao lý do mà những kẻ Munafiq (đạo đức giả) đã đưa ra làm cái cớ để được Ngươi cho phép chúng ở lại. Nếu như chiến lợi phẩm dễ lấy và đường đi không khó nhọc thì chắc chắn chúng đã xuất binh cùng Ngươi mất rồi - hỡi Thiên Sứ -, nhưng vì đường đi xa xôi và nhiều trở ngại khó khăn nên chúng đã quyết ở lại nhà. Và rồi khi Ngươi trở về, những kẻ trong nhóm Munafiq này sẽ thề với Allah mà nói với Ngươi rằng, nếu có thể là chúng đã đi cùng với các ngươi rồi. Quả thật chúng đáng bị tiêu diệt vì dám đẩy thân mình vào hình phạt của Allah bởi sự thề thốt dối trá của chúng. Va Allah biết rõ chúng là những kẻ nói dối trong lời nói cũng như trong lời thề thốt này của chúng.
अरबी व्याख्याहरू:
عَفَا ٱللَّهُ عَنكَ لِمَ أَذِنتَ لَهُمۡ حَتَّىٰ يَتَبَيَّنَ لَكَ ٱلَّذِينَ صَدَقُواْ وَتَعۡلَمَ ٱلۡكَٰذِبِينَ
Allah tha thứ cho Ngươi - hỡi Thiên Sứ - về việc Ngươi tự ý cho phép chúng không tham chiến trong lúc Ngươi chưa rõ ai là kẻ thành thật và ai là kẻ giả dối trong việc đưa ra các lý do không thể cùng Ngươi tham chiến.
अरबी व्याख्याहरू:
لَا يَسۡتَـٔۡذِنُكَ ٱلَّذِينَ يُؤۡمِنُونَ بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ أَن يُجَٰهِدُواْ بِأَمۡوَٰلِهِمۡ وَأَنفُسِهِمۡۗ وَٱللَّهُ عَلِيمُۢ بِٱلۡمُتَّقِينَ
Những người có đức tin nơi Allah và Ngày Phán Xét một cách trung thực và thành tâm sẽ không xin Ngươi - hỡi Thiên Sứ - cho phép họ ở lại nhà, không tham chiến vì chính nghĩa của Allah mà họ sẽ sẵn sàng chiến đấu bằng cả tài sản và sinh mạng của họ khi được kêu gọi. Và Allah luôn am tường về người ngay chính trong đám nô lệ của Ngài, bởi họ không bao giờ xin phép trừ phi có lý do thật sự chính đáng.
अरबी व्याख्याहरू:
إِنَّمَا يَسۡتَـٔۡذِنُكَ ٱلَّذِينَ لَا يُؤۡمِنُونَ بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ وَٱرۡتَابَتۡ قُلُوبُهُمۡ فَهُمۡ فِي رَيۡبِهِمۡ يَتَرَدَّدُونَ
Quả thật những kẻ đến xin phép Ngươi - hỡi Thiên Sứ - ở lại nhà, không tham chiến vì chính nghĩa của Allah, chính là nhóm Munafiq. Chúng chẳng có đức tin nơi Allah, cũng không tin vào cuộc sống Đời Sau, và chúng là những kẻ luôn mang chứng bệnh nghi ngờ trong tim về tôn giáo của Allah; và với tấm lòng nghi ngờ đó, chúng đã do dư và lưỡng lự nên chúng đã không được hướng dẫn đến với chân lý.
अरबी व्याख्याहरू:
۞ وَلَوۡ أَرَادُواْ ٱلۡخُرُوجَ لَأَعَدُّواْ لَهُۥ عُدَّةٗ وَلَٰكِن كَرِهَ ٱللَّهُ ٱنۢبِعَاثَهُمۡ فَثَبَّطَهُمۡ وَقِيلَ ٱقۡعُدُواْ مَعَ ٱلۡقَٰعِدِينَ
Và nếu thật sự chúng muốn tham chiến như lời chúng nói rằng rất muốn ra đi cùng Ngươi tham chiến vì chính nghĩa của Allah thì chắc chúng đã trang bị đầy đủ ngay từ đầu. Tuy nhiên, Allah đã ghét việc chúng xuất binh cùng Ngươi nên đã khiến chúng cảm thấy ì ạch và nặng nề để rồi cuối cùng chúng phải ở lại nhà.
अरबी व्याख्याहरू:
لَوۡ خَرَجُواْ فِيكُم مَّا زَادُوكُمۡ إِلَّا خَبَالٗا وَلَأَوۡضَعُواْ خِلَٰلَكُمۡ يَبۡغُونَكُمُ ٱلۡفِتۡنَةَ وَفِيكُمۡ سَمَّٰعُونَ لَهُمۡۗ وَٱللَّهُ عَلِيمُۢ بِٱلظَّٰلِمِينَ
Là một điều tốt khi nhóm Munafiq này không tham chiến với các ngươi, bởi khi chúng đi cùng các ngươi thì chúng chỉ toàn tạo ra sự lộn xộn, rắc rối cho các ngươi. Chúng sẽ nhanh mồm nói xấu người này và đâm thọc người kia nhằm chia rẽ sự đoàn kết và gây bất hòa giữa các ngươi. Trong nhóm các ngươi - hỡi những người có đưc tin - có những tên dọ thám của chúng loan truyền những tin tức bịa đặt, những điều nghi kỵ khiến các ngươi bất hòa nhau. Và Allah biết rõ những kẻ làm điều sai quấy trong đám Munafiq đó, những kẻ mà chúng luôn tìm cách gây sự xáo trộn hàng ngũ của những người có đưc tin.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• وجوب الجهاد بالنفس والمال كلما دعت الحاجة.
* Bắt buộc phải Jihad bằng cả tính mạng và tài sản khi cần đến.

• الأيمان الكاذبة توجب الهلاك.
* Thề thốt giả dối là nguyên nhân dẫn đến sự diệt vong.

• وجوب الاحتراز من العجلة، ووجوب التثبت والتأني، وترك الاغترار بظواهر الأمور، والمبالغة في التفحص والتريث.
* Bắt buộc phải cẩn thận trong việc quyết định một vấn đề, tránh quyết định vội vã, cần phải xác minh và suy xét và bỏ đi các biểu hiện bên ngoài của mọi vấn đề và cần phải cân nhắc tỉ mỉ hơn nữa trước khi kết luận.

• من عناية الله بالمؤمنين تثبيطه المنافقين ومنعهم من الخروج مع عباده المؤمنين، رحمة بالمؤمنين ولطفًا من أن يداخلهم من لا ينفعهم بل يضرهم.
* Một trong những cách bảo vệ của Allah dành cho những người có đức tin là Ngài tách nhóm Munafiq ra khỏi những người có đức tin, Ngài cản trở họ tham chiến cùng những người có đức tin. Nó như là lòng thương xót dành cho những người có đức tin khi Ngài loại trừ khỏi những người cóđức tin mọi thứ có hại đến họ.

لَقَدِ ٱبۡتَغَوُاْ ٱلۡفِتۡنَةَ مِن قَبۡلُ وَقَلَّبُواْ لَكَ ٱلۡأُمُورَ حَتَّىٰ جَآءَ ٱلۡحَقُّ وَظَهَرَ أَمۡرُ ٱللَّهِ وَهُمۡ كَٰرِهُونَ
Nhóm Munafiq này đã cố gắng chia rẽ sự đoàn kết của những người có đức tin với mọi khả năng có thể trước khi xuất binh trong trận Tabuk. Chúng đã tìm trăm mưu ngàn kế để làm giảm ý chí xuất binh của Ngươi - hỡi Thiên Sứ - mãi khi Allah phù hộ và bảo vệ Ngươi, Allah phù hộ tôn giáo của Ngài và hạ nhục kẻ thù tôn giáo. Và chúng căm ghét diều đó bởi chúng luôn khao khát phổ biến mọi điều ngụy tạo hồng che khuất chân lý.
अरबी व्याख्याहरू:
وَمِنۡهُم مَّن يَقُولُ ٱئۡذَن لِّي وَلَا تَفۡتِنِّيٓۚ أَلَا فِي ٱلۡفِتۡنَةِ سَقَطُواْۗ وَإِنَّ جَهَنَّمَ لَمُحِيطَةُۢ بِٱلۡكَٰفِرِينَ
Và trong số những tên Munafiq viện lý do để không tham chiến, hắn nói: "Thưa Thiên Sứ của Allah, xin cho tôi được không tham chiến, xin đừng lôi kéo tôi vào tội lỗi bởi sự cám dỗ phụ nữ - Hi Lạp - của kẻ thù khi tôi gặp các ả." Há chúng chẳng phải đã tự đẩy mình rơi vào thử thách khủng khiếp hơn so với thứ mà chúng khẳng định ư? Đó là tội ngụy đức tin và tội không tham chiến, chắc chắn Hỏa Ngục ở Đời Sau sẽ bao trùm những kẻ vô đức tin, không một ai trong chúng thoát được và chúng không thể tìm thấy lối thoát hiểm nào.
अरबी व्याख्याहरू:
إِن تُصِبۡكَ حَسَنَةٞ تَسُؤۡهُمۡۖ وَإِن تُصِبۡكَ مُصِيبَةٞ يَقُولُواْ قَدۡ أَخَذۡنَآ أَمۡرَنَا مِن قَبۡلُ وَيَتَوَلَّواْ وَّهُمۡ فَرِحُونَ
Khi Ngươi - hỡi Thiên Sứ - được Allah ban cho hồng ân làm ngươi hoan hỉ bằng chiến thắng hoặc chiến lợi phẩm thì chúng lại căm ghét và đau buồn. Nhưng khi Ngươi bị gặp tai họa hoặc bị thất bại trước kẻ thù thì những kẻ Munafiq này liền nói "Chúng tôi đã lường trước cho bản thân mình điều này nên đã không ra đi chinh chiến giống như những người có đức tin đã ra đi và đã bị giết chóc và giam cầm" rồi quay lưng bỏ đi về với gia đình bằng niềm vui bởi sự bình an của chúng.
अरबी व्याख्याहरू:
قُل لَّن يُصِيبَنَآ إِلَّا مَا كَتَبَ ٱللَّهُ لَنَا هُوَ مَوۡلَىٰنَاۚ وَعَلَى ٱللَّهِ فَلۡيَتَوَكَّلِ ٱلۡمُؤۡمِنُونَ
Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy nói với những kẻ Munafiq: Không bao giờ có một điều gì đó gây hại được chúng tôi ngoài những gì Allah đã định cho chúng tôi, Ngài là Chủ Nhân của chúng tôi, là điểm dựa của chúng tôi và chúng tôi phó thác mọi việc của chúng tôi cho Ngài và những người có đức tin luôn hướng đến Ngài để phó mặc cho Ngài; Ngài thừa sức giúp đỡ họ và một mình Ngài đã đủ cho họ.
अरबी व्याख्याहरू:
قُلۡ هَلۡ تَرَبَّصُونَ بِنَآ إِلَّآ إِحۡدَى ٱلۡحُسۡنَيَيۡنِۖ وَنَحۡنُ نَتَرَبَّصُ بِكُمۡ أَن يُصِيبَكُمُ ٱللَّهُ بِعَذَابٖ مِّنۡ عِندِهِۦٓ أَوۡ بِأَيۡدِينَاۖ فَتَرَبَّصُوٓاْ إِنَّا مَعَكُم مُّتَرَبِّصُونَ
Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy bảo chúng: "Hay là các ngươi đang chờ đợi bọn ta được chiến thắng hoặc hy sinh vì đạo?! Và bọn ta thì đang chờ Allah giáng lên các ngươi hình phạt tiêu diệt toàn bộ các ngươi hoặc Ngài sẽ trừng phạt các ngươi bằng bàn tay của bọn ta bởi việc giết các ngươi hoặc bắt các ngươi làm tù binh khi Ngài cho phép bọn ta đánh các ngươi. Các ngươi cứ hãy chờ xem kết quả của bọn ta và bọn ta đang chờ đợi kết cuộc của các ngươi."
अरबी व्याख्याहरू:
قُلۡ أَنفِقُواْ طَوۡعًا أَوۡ كَرۡهٗا لَّن يُتَقَبَّلَ مِنكُمۡ إِنَّكُمۡ كُنتُمۡ قَوۡمٗا فَٰسِقِينَ
Ngươi hãy bảo chúng - hỡi Thiên Sứ -: "Mặc cho các ngươi có cố gắng chi dùng tài sản ra sao, tự nguyện làm từ thiện hoặc bị ép làm từ thiện thì mọi thứ các ngươi đã chi dùng vẫn không được chấp nhận vì các ngươi vốn không tin tưởng và đã rời khỏi sự phục tùng Allah."
अरबी व्याख्याहरू:
وَمَا مَنَعَهُمۡ أَن تُقۡبَلَ مِنۡهُمۡ نَفَقَٰتُهُمۡ إِلَّآ أَنَّهُمۡ كَفَرُواْ بِٱللَّهِ وَبِرَسُولِهِۦ وَلَا يَأۡتُونَ ٱلصَّلَوٰةَ إِلَّا وَهُمۡ كُسَالَىٰ وَلَا يُنفِقُونَ إِلَّا وَهُمۡ كَٰرِهُونَ
Và nguyên nhân việc bố thí của chúng không được chấp nhận là do ba vấn đề: Vô đức tin nơi Allah và Thiên sứ của Ngài; lười biếng và uể oải khi dâng lễ nguyện Salah và miễn cưỡng bố thí tài sản chứ lòng không chút mong muốn; bởi lẽ chúng không hề hy vọng về phần thưởng qua việc lễ nguyện Salah cũng như qua việc bố thí của họ.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• دأب المنافقين السعي إلى إلحاق الأذى بالمسلمين عن طريق الدسائس والتجسس.
* Những tên Munafiq luôn tìm cách làm hại người Muslim thông qua mưu đồ và điệp vụ.

• التخلف عن الجهاد مفسدة كبرى وفتنة عظمى محققة، وهي معصية لله ومعصية لرسوله.
* Việc bỏ Jihad là một tai ương lớn và là một đại loạn đã được xác thực, đó là đã nghịch lại Allah và bất tuân Thiên Sứ của Ngài.

• في الآيات تعليم للمسلمين ألا يحزنوا لما يصيبهم؛ لئلا يَهِنوا وتذهب قوتهم، وأن يرضوا بما قدَّر الله لهم، ويرجوا رضا ربهم؛ لأنهم واثقون بأن الله يريد نصر دينه.
* Các câu Kinh dạy tín đồ Muslim rằng không có gì phải đau buồn trước những khó khăn đang xảy ra cho họ mà để mất tinh thần và suy yếu sức mạnh. Họ cần phải thỏa mãn với mọi thứ được Allah định đoạt, và khát khao sự hài lòng của Allah, bởi vì họ luôn tin rằng Allah sẽ ban chiến thắng cho tôn giáo của Ngài.

• من علامات ضعف الإيمان وقلة التقوى التكاسل في أداء الصلاة والإنفاق عن غير رضا ورجاء للثواب.
* Trong những dấu hiệu yếu đuối của đức tin Iman và thiếu lòng Taqwa (kính sợ) là lười biếng dâng lễ nguyện Salah và bố thí một cách miễn cưỡng, không có niềm hy vọng được ân phước.

فَلَا تُعۡجِبۡكَ أَمۡوَٰلُهُمۡ وَلَآ أَوۡلَٰدُهُمۡۚ إِنَّمَا يُرِيدُ ٱللَّهُ لِيُعَذِّبَهُم بِهَا فِي ٱلۡحَيَوٰةِ ٱلدُّنۡيَا وَتَزۡهَقَ أَنفُسُهُمۡ وَهُمۡ كَٰفِرُونَ
Vì vậy, Ngươi - hỡi Thiên Sứ - đừng để tài sản và con cái của những tên Munafiq lôi cuốn Ngươi khiến Ngươi tưởng đó là điều tốt. Sự việc không phải như thế, hậu quả xấu sẽ đến từ tài sản và con cái của chúng. Allah sẽ biến tất cả thành một cực hình dành cho chúng để có được những thứ đó và chúng sẽ phải đối mặt với hàng loại tai nạn cho đến khi Allah rút hồn chúng và chúng vẫn trên tình trạng vô đức tin để rồi cuối cùng chúng sẽ mãi mãi ở tầng đáy của Hỏa Ngục.
अरबी व्याख्याहरू:
وَيَحۡلِفُونَ بِٱللَّهِ إِنَّهُمۡ لَمِنكُمۡ وَمَا هُم مِّنكُمۡ وَلَٰكِنَّهُمۡ قَوۡمٞ يَفۡرَقُونَ
Và những kẻ Munafiq đã thề thốt dối trá với các ngươi - hỡi những người có đức tin - rằng chúng tự khẳng định là người của các ngươi, nhưng thực sự chúng đâu phải là người của các ngươi mặc dù chúng sinh sống cùng quê hương với các ngươi, chúng luôn cố gắng thể hiện là người cùng nhóm với các ngươi. Đúng hơn, chúng là nhóm người sợ phải hậu quả giống người đa thần đã bị như bị giết, bị bắt làm tù binh, từ đó chúng đã cố gắng thể hiện mình là người Muslim mà thôi.
अरबी व्याख्याहरू:
لَوۡ يَجِدُونَ مَلۡجَـًٔا أَوۡ مَغَٰرَٰتٍ أَوۡ مُدَّخَلٗا لَّوَلَّوۡاْ إِلَيۡهِ وَهُمۡ يَجۡمَحُونَ
Nếu như đám Munafiq đó tìm thấy một điểm nương thân nào có thể ẩn mình dù là hang động trong núi hoặc là đường hầm thì chắc chắn chúng đã nhanh chân lẫn trốn vào đó mất rồi.
अरबी व्याख्याहरू:
وَمِنۡهُم مَّن يَلۡمِزُكَ فِي ٱلصَّدَقَٰتِ فَإِنۡ أُعۡطُواْ مِنۡهَا رَضُواْ وَإِن لَّمۡ يُعۡطَوۡاْ مِنۡهَآ إِذَا هُمۡ يَسۡخَطُونَ
Và trong số đám người Munafiq, có kẻ đã nói xấu về Ngươi - hỡi Thiên Sứ - về việc Ngươi chia phần bố thí không thuận theo ý muốn của chúng. Nếu Ngươi chia theo yêu cầu đòi hỏi của chúng thì chúng hài lòng về Ngươi còn khi Ngươi không chia theo yêu cầu của chúng thì chúng liền bọc lộ bản tính xấu của chúng ra.
अरबी व्याख्याहरू:
وَلَوۡ أَنَّهُمۡ رَضُواْ مَآ ءَاتَىٰهُمُ ٱللَّهُ وَرَسُولُهُۥ وَقَالُواْ حَسۡبُنَا ٱللَّهُ سَيُؤۡتِينَا ٱللَّهُ مِن فَضۡلِهِۦ وَرَسُولُهُۥٓ إِنَّآ إِلَى ٱللَّهِ رَٰغِبُونَ
Và giá như những kẻ Munafiq xuyên tạc Ngươi về việc chia phần bố thí biết hài lòng với những gì Allah đã ban cho chúng, thỏa mãn những gì được Thiên Sứ chia phần và biết nói: Đối với chúng tôi Allah là đủ, Ngài sẽ sớm ban cho chúng tôi thiên lộc như Ngài muốn và Thiên Sứ sẽ chia đúng phần mà Allah đã định cho chúng tôi, chúng tôi chỉ hi vọng vào Allah duy nhất trong việc ban phát. Và nếu như chúng đã làm thế thì đã tốt đẹp biết bao cho chúng, tốt đẹp hơn hẳn việc chúng đã xuyên tạc.
अरबी व्याख्याहरू:
۞ إِنَّمَا ٱلصَّدَقَٰتُ لِلۡفُقَرَآءِ وَٱلۡمَسَٰكِينِ وَٱلۡعَٰمِلِينَ عَلَيۡهَا وَٱلۡمُؤَلَّفَةِ قُلُوبُهُمۡ وَفِي ٱلرِّقَابِ وَٱلۡغَٰرِمِينَ وَفِي سَبِيلِ ٱللَّهِ وَٱبۡنِ ٱلسَّبِيلِۖ فَرِيضَةٗ مِّنَ ٱللَّهِۗ وَٱللَّهُ عَلِيمٌ حَكِيمٞ
Quả thật, các của cải Zakah chỉ được chia cho người nghèo, họ rất cần sự giúp đỡ mặc dù họ có thu nhập và có công việc nhưng số tiền kiếm được hoàn toàn không đủ cho họ xoay sở; cho người cận nghèo, họ gần như không sở hữu bất cứ gì có giá trị và hoàn cảnh của họ ai cũng rõ; cho người thu gom tiền Zakah để giao nộp cho lãnh đạo; cho người ngoại đạo mục đích để tác động hi vọng họ vào Islam hoặc trợ giúp người có đức tin có thể gia tăng niềm tin hoặc để giảm thiểu sự gây hại của họ đối với tín đồ Muslim khác; cho người nô lệ để họ chuộc thân được tự do; cho người thiếu nợ không phải do chi tiêu phung phí, cũng không vì mục đích tội lỗi và không có khả năng trả nợ; phục vụ cho quân lính đi Jihad vì chính nghĩa của Allah; và cho người lỡ đường không còn tiền đi tiếp về đến quê nhà. Tiền Zakah chỉ được chi dùng cho tám đối tượng này, đó là qui định mà Allah đã ban hành. Allah luôn biết rõ mọi thứ cải thiện cuộc sống đám nô lệ của Ngài, Ngài rất sáng suốt trong việc thống trị và định đoạt.
अरबी व्याख्याहरू:
وَمِنۡهُمُ ٱلَّذِينَ يُؤۡذُونَ ٱلنَّبِيَّ وَيَقُولُونَ هُوَ أُذُنٞۚ قُلۡ أُذُنُ خَيۡرٖ لَّكُمۡ يُؤۡمِنُ بِٱللَّهِ وَيُؤۡمِنُ لِلۡمُؤۡمِنِينَ وَرَحۡمَةٞ لِّلَّذِينَ ءَامَنُواْ مِنكُمۡۚ وَٱلَّذِينَ يُؤۡذُونَ رَسُولَ ٱللَّهِ لَهُمۡ عَذَابٌ أَلِيمٞ
Và trong nhóm Munafiq có kẻ đã xúc phạm đến Thiên Sứ của Allah, chúng đã nói khi chứng kiến sức chịu đựng của Người: "Quả là bất cứ ai nói gì Y cũng tin, Y không phân biệt được giữa chân lý và bịa đặt." Hãy đáp lại chúng - hỡi Thiên Sứ -: Quả thật, Thiên Sứ chỉ nghe điều tốt đẹp, tin tưởng vào Allah, tin cậy những nguồn tin mà những người có đức tin chân thật loan báo và nhân từ với họ, sứ mạng của Người là một hồng ân dành cho ai tin tưởng. Đối với những ai xúc phạm đến Thiên Sứ của Allah với bất cứ hình thức nào sẽ phải đối diện với hình phạt đau đớn.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• الأموال والأولاد قد تكون سببًا للعذاب في الدنيا، وقد تكون سببًا للعذاب في الآخرة، فليتعامل العبد معهما بما يرضي مولاه، فتتحقق بهما النجاة.
* Tài sản và con cái đôi khi là nguyên nhân bị trừng phạt ở trần gian và đôi khi cũng là lý do bị trừng phạt ở Đời Sau. Cho nên con người cần điều khiển và kiểm soát hai thứ này một cách khôn ngoan sao cho làm hài lòng Allah, Chủ Nhân của y và định hướng rõ ràng cho hai hình thức này.

• توزيع الزكاة موكول لاجتهاد ولاة الأمور يضعونها على حسب حاجة الأصناف وسعة الأموال.
* Lãnh đạo được quyền phân chia Zakah tùy theo mức lượng mà họ thấy phù hợp và tùy theo số tiền có được.

• إيذاء الرسول صلى الله عليه وسلم فيما يتعلق برسالته كفر، يترتب عليه العقاب الشديد.
* Xúc phạm đến Thiên Sứ, đặc biệt là về mặt Sứ Mạng của Người, là tội phủ nhận đức tin và phải chịu hình phạt đau đớn.

• ينبغي للعبد أن يكون أُذن خير لا أُذن شر، يستمع ما فيه الصلاح والخير، ويُعرض ترفُّعًا وإباءً عن سماع الشر والفساد.
* Người bề tôi nên nghe và cả tin điều tốt chứ không nghe và cả tin điều xấu, hãy lắng nghe điều giúp cải thiện cuộc sống, chứ đừng lắng nghe những thứ hư đốn, gây hại.

يَحۡلِفُونَ بِٱللَّهِ لَكُمۡ لِيُرۡضُوكُمۡ وَٱللَّهُ وَرَسُولُهُۥٓ أَحَقُّ أَن يُرۡضُوهُ إِن كَانُواْ مُؤۡمِنِينَ
Những kẻ Munafiq đã nhân danh Allah mà thề thốt với các ngươi - hỡi những người có đức tin - rằng chúng đã không nói bất cứ điều gì xúc phạm đến Thiên Sứ chẳng qua để làm hài lòng các ngươi, trong khi Allah và Thiên Sứ của Ngài xứng đáng hơn để chúng làm hài lòng, để tin tưởng và hành thiện, nếu chúng thật sự là những người có đức tin.
अरबी व्याख्याहरू:
أَلَمۡ يَعۡلَمُوٓاْ أَنَّهُۥ مَن يُحَادِدِ ٱللَّهَ وَرَسُولَهُۥ فَأَنَّ لَهُۥ نَارَ جَهَنَّمَ خَٰلِدٗا فِيهَاۚ ذَٰلِكَ ٱلۡخِزۡيُ ٱلۡعَظِيمُ
Hay là nhóm Munafiq không biết rằng hành động đó của chúng đã đại nghịch với Allah và Thiên Sứ của Ngài, và đối với ai đại nghịch với Ngài và Thiên Sứ của Ngài thì vào Ngày Sau sẽ phải ở muôn đời trong Hỏa Ngục hay sao? Đó đúng là một sự hạ nhục đáng khinh.
अरबी व्याख्याहरू:
يَحۡذَرُ ٱلۡمُنَٰفِقُونَ أَن تُنَزَّلَ عَلَيۡهِمۡ سُورَةٞ تُنَبِّئُهُم بِمَا فِي قُلُوبِهِمۡۚ قُلِ ٱسۡتَهۡزِءُوٓاْ إِنَّ ٱللَّهَ مُخۡرِجٞ مَّا تَحۡذَرُونَ
Những kẻ giả tạo đức tin đang run sợ về việc Allah sẽ thiên khải cho Thiên Sứ của Ngài một chương Kinh phơi bày cho những người có đức tin biết được sự vô đức tin đang được chúng cố giấu kín trong lòng. Hãy bảo chúng - hỡi Thiên Sứ: Hỡi những kẻ giả tạo đức tin, các ngươi cứ tiếp tục nhạo báng và xúc phạm tôn giáo (Islam), rồi Allah sẽ phơi bày tất cả mọi thứ mà các ngươi đang run sợ bằng cách thiên khải một chương kinh hoặc thông báo cho Thiên sứ của Ngài biết về sự thật đó.
अरबी व्याख्याहरू:
وَلَئِن سَأَلۡتَهُمۡ لَيَقُولُنَّ إِنَّمَا كُنَّا نَخُوضُ وَنَلۡعَبُۚ قُلۡ أَبِٱللَّهِ وَءَايَٰتِهِۦ وَرَسُولِهِۦ كُنتُمۡ تَسۡتَهۡزِءُونَ
Và nếu Ngươi - hỡi Thiên Sứ - có hỏi nhóm Munafiq về nguyên nhân chúng đã xúc phạm và mắng chửi những người có đức tin sau khi được Allah báo cho Ngươi biết thông tin về chúng, chắc chắn chúng sẽ nói: Chúng tôi chỉ thuận miệng nói đùa chứ không cố ý xúc phạm. Hãy bảo họ - hỡi Thiên Sứ -: Phải chăng đến cả Allah và Thiên Sứ của Ngài các ngươi cũng dám mang ra nhạo báng ư?
अरबी व्याख्याहरू:
لَا تَعۡتَذِرُواْ قَدۡ كَفَرۡتُم بَعۡدَ إِيمَٰنِكُمۡۚ إِن نَّعۡفُ عَن طَآئِفَةٖ مِّنكُمۡ نُعَذِّبۡ طَآئِفَةَۢ بِأَنَّهُمۡ كَانُواْ مُجۡرِمِينَ
Các ngươi đừng có cố giải thích làm gì với lời lẽ giả tạo đó, các ngươi đã rõ ràng phủ nhận đức tin bằng hành động chế nhạo của các ngươi sau khi các ngươi đã cố che giấu nó. Nếu như TA (Allah) bỏ qua cho một nhóm của các ngươi vì chúng đã từ bỏ việc ngụy tạo Islam, đã biết sám hối và thành tâm với Allah thì TA vẫn phải trừng phạt nhóm khác vì chúng vẫn ngoan cố ngụy tạo Islam mà không chịu ăn năn sám hối.
अरबी व्याख्याहरू:
ٱلۡمُنَٰفِقُونَ وَٱلۡمُنَٰفِقَٰتُ بَعۡضُهُم مِّنۢ بَعۡضٖۚ يَأۡمُرُونَ بِٱلۡمُنكَرِ وَيَنۡهَوۡنَ عَنِ ٱلۡمَعۡرُوفِ وَيَقۡبِضُونَ أَيۡدِيَهُمۡۚ نَسُواْ ٱللَّهَ فَنَسِيَهُمۡۚ إِنَّ ٱلۡمُنَٰفِقِينَ هُمُ ٱلۡفَٰسِقُونَ
Những người Munafiq cả nam lẫn nữa đều có chung một bản tính, đó là họ muốn đối nghịch với những người có đức tin nên họ luôn động viên mọi người làm điều tội lỗi và ngăn chặn mọi người làm việc thiện, việc tốt đẹp, họ luôn keo kiệt không muốn bố thí vì con đường của Allah, họ đã bỏ hẳn việc tuân lệnh Allah nên họ đã bị Ngài bỏ mặc và không được phù hộ thành công. Quả thật, nhóm Munafiq đã rời xa việc tuân lệnh Allah, lệch khỏi con đường chân lý, sa vào lầm lạc và tội lỗi.
अरबी व्याख्याहरू:
وَعَدَ ٱللَّهُ ٱلۡمُنَٰفِقِينَ وَٱلۡمُنَٰفِقَٰتِ وَٱلۡكُفَّارَ نَارَ جَهَنَّمَ خَٰلِدِينَ فِيهَاۚ هِيَ حَسۡبُهُمۡۚ وَلَعَنَهُمُ ٱللَّهُۖ وَلَهُمۡ عَذَابٞ مُّقِيمٞ
Allah hứa trừng phạt những kẻ Munafiq, cả nam lẫn nữ, cùng tất cả những kẻ vô đức tin vẫn không chịu ăn năn bằng cách đày chúng vào trong lửa của Hỏa Ngục muôn đời ở trong đó. Hình phạt đó đã đủ cho chúng. Allah trục xuất chúng ra khỏi lòng thương xót của Ngài và chúng sẽ phải bị một sự trừng phạt liên tục không có sự ngừng nghỉ.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• قبائح المنافقين كثيرة، ومنها الإقدام على الأيمان الكاذبة، ومعاداة الله ورسوله، والاستهزاء بالقرآن والنبي والمؤمنين، والتخوف من نزول سورة في القرآن تفضح شأنهم، واعتذارهم بأنهم هازلون لاعبون، وهو إقرار بالذنب، بل هو عذر أقبح من الذنب.
* Những kẻ Munafiq có vô số điều xấu, tiêu biểu như sử dụng lời thề giả dối; đối nghịch với Allah và Thiên Sứ của Ngài; chế nhạo Qur'an, Nabi, và những người có đức tin; lo sợ có chương Kinh thiên khải xuống phơi bày điều xấu của họ; viện lý rằng họ chỉ đùa giỡn và đó là lý do tự thú về tội lỗi, đúng hơn đó là một lời tự thú gớm ghiếc.

• لا يُقبل الهزل في الدين وأحكامه، ويعد الخوض بالباطل في كتاب الله ورسله وصفاته كفرًا.
* Không chấp nhận việc lấy tôn giáo và giáo lý ra giễu cợt. Hành động đó bị xem là bênh vực điều giả tạo thay vì Kinh Sách của Allah và Thiên Sứ của Ngài; và đó là bản chất của sự vô đức tin.

• النّفاق: مرض عُضَال متأصّل في البشر، وأصحاب ذلك المرض متشابهون في كل عصر وزمان في الأمر بالمنكر والنّهي عن المعروف، وقَبْض أيديهم وإمساكهم عن الإنفاق في سبيل الله للجهاد، وفيما يجب عليهم من حق.
* Nifaq (ngụy tạo Islam) là chứng bệnh ảnh hưởng sâu sắc đến cơ thể, tất cả những ai mang chứng bệnh này dù ở thời đại nào, thuộc nền văn minh nào thì họ vẫn có chung một bản chất, đó là tuyên truyền điều tội lỗi và ngăn chặn điều thiện, điều tốt đẹp, luôn keo kiệt và giữ chặt lấy tiền bạc không hề muốn bố thí cho con đường chính nghĩa của Allah và những nghĩa vụ khác phải thực hiện.

• الجزاء من جنس العمل، فالذي يترك أوامر الله ويأتي نواهيه يتركه من رحمته.
* Làm tốt được tốt và làm xấu gặp xấu. Ai không chấp hành mệnh lệnh của Allah và vi phạm những điều cấm của Ngài thì Ngài sẽ bỏ mặc y khỏi lòng thương xót của Ngài.

كَٱلَّذِينَ مِن قَبۡلِكُمۡ كَانُوٓاْ أَشَدَّ مِنكُمۡ قُوَّةٗ وَأَكۡثَرَ أَمۡوَٰلٗا وَأَوۡلَٰدٗا فَٱسۡتَمۡتَعُواْ بِخَلَٰقِهِمۡ فَٱسۡتَمۡتَعۡتُم بِخَلَٰقِكُمۡ كَمَا ٱسۡتَمۡتَعَ ٱلَّذِينَ مِن قَبۡلِكُم بِخَلَٰقِهِمۡ وَخُضۡتُمۡ كَٱلَّذِي خَاضُوٓاْۚ أُوْلَٰٓئِكَ حَبِطَتۡ أَعۡمَٰلُهُمۡ فِي ٱلدُّنۡيَا وَٱلۡأٓخِرَةِۖ وَأُوْلَٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡخَٰسِرُونَ
Các ngươi - hỡi những kẻ Munafiq - cứ nhởn nhơ trong sự vô đức tin và nhạo báng giống như các thế hệ dối trá trước các ngươi. Những kẻ trước đây mạnh hơn các ngươi, nhiều hơn các ngươi về tiền bạc và con cái, chúng đã sống hưởng thụ với những bổng lộc đã định sẵn cho chúng và thỏa mãn mọi dục vọng của chúng ở trần gian. Thế nên các ngươi - hỡi những kẻ Munafiq - cứ hãy tận hưởng bổng lộc đã định sẵn cho các ngươi như chúng đã từng hưởng thụ và các ngươi cứ thoải mái mà phủ nhận chân lý, xúc phạm Thiên Sứ như việc chúng đã từng như vậy trước đây. Tất cả việc làm thiện tốt của chúng đều trở nên vô nghĩa ở nơi Allah bởi sự vô đức tin và chúng là những kẻ đã thua thiệt vì chúng tự đẩy bản thân mình rơi vào những cái hố diệt vong.
अरबी व्याख्याहरू:
أَلَمۡ يَأۡتِهِمۡ نَبَأُ ٱلَّذِينَ مِن قَبۡلِهِمۡ قَوۡمِ نُوحٖ وَعَادٖ وَثَمُودَ وَقَوۡمِ إِبۡرَٰهِيمَ وَأَصۡحَٰبِ مَدۡيَنَ وَٱلۡمُؤۡتَفِكَٰتِۚ أَتَتۡهُمۡ رُسُلُهُم بِٱلۡبَيِّنَٰتِۖ فَمَا كَانَ ٱللَّهُ لِيَظۡلِمَهُمۡ وَلَٰكِن كَانُوٓاْ أَنفُسَهُمۡ يَظۡلِمُونَ
Phải chăng những kẻ Munafiq này chưa từng biết đến nguồn thông tin đã xảy ra với những cộng đồng lọc lừa trước đây và đã phải chịu hậu quả thế nào ư? Chẳng hạn như dân chúng của Nuh, của Hud, của Saleh, của Ibrahim, của ngôi làng Madyan và của những ngôi làng của Lut; các Thiên Sứ đã đến gặp chúng với nhiều bằng chứng rõ ràng, đầy thuyết phục. Quả thật, Allah không hề bất công với chúng vì các Thiên Sứ của chúng đã luôn cố cảnh báo chúng nhưng chúng lại tự bất công với chính bản thân mình khi đã phủ nhận Allah và Thiên Sứ của Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
وَٱلۡمُؤۡمِنُونَ وَٱلۡمُؤۡمِنَٰتُ بَعۡضُهُمۡ أَوۡلِيَآءُ بَعۡضٖۚ يَأۡمُرُونَ بِٱلۡمَعۡرُوفِ وَيَنۡهَوۡنَ عَنِ ٱلۡمُنكَرِ وَيُقِيمُونَ ٱلصَّلَوٰةَ وَيُؤۡتُونَ ٱلزَّكَوٰةَ وَيُطِيعُونَ ٱللَّهَ وَرَسُولَهُۥٓۚ أُوْلَٰٓئِكَ سَيَرۡحَمُهُمُ ٱللَّهُۗ إِنَّ ٱللَّهَ عَزِيزٌ حَكِيمٞ
Những người có đức tin, nam và nữ, là những đồng minh hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, vì họ có điểm chung là đức tin Iman, họ luôn tuyên truyền kêu gọi nhau làm việc tốt thiện, đó là tất cả những gì được Allah yêu thích qua mọi mặt hành đạo như Tawhid, Salah; họ không ngừng ngăn cản nhau làm điều tội lỗi, đó là tất cả mọi thứ khiến Allah phẫn nộ bằng mọi hành động tội lỗi như vô đức tin, Riba (cho vay lấy lãi). Ngoài ra, họ còn hoàn thành tốt bổn phận Salah, biết vâng lời Allah và tuân lệnh Thiên Sứ của Ngài. Nhóm người được miêu tả đó sẽ được Allah thu nhận vào Thiên Đàng bằng lòng bao dung của Ngài, quả thật Allah là Đấng Toàn Năng, không có gì kháng lại Ngài, Ngài là Đấng rất mực sáng suốt trong sự điều hành, quản lý và định đoạt của Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
وَعَدَ ٱللَّهُ ٱلۡمُؤۡمِنِينَ وَٱلۡمُؤۡمِنَٰتِ جَنَّٰتٖ تَجۡرِي مِن تَحۡتِهَا ٱلۡأَنۡهَٰرُ خَٰلِدِينَ فِيهَا وَمَسَٰكِنَ طَيِّبَةٗ فِي جَنَّٰتِ عَدۡنٖۚ وَرِضۡوَٰنٞ مِّنَ ٱللَّهِ أَكۡبَرُۚ ذَٰلِكَ هُوَ ٱلۡفَوۡزُ ٱلۡعَظِيمُ
Allah hứa với những người có đức tin nơi Allah, cả nam lẫn nữ, rằng ở Đời Sau họ sẽ được thu nhận vào những Ngôi Vườn Thiên Đàng có những dòng sông chảy bên dưới các tòa lâu đài, họ sẽ ở trong đó mãi mãi, họ không bao giờ chết, sự hưởng thụ không bao giờ bị gián đoạn. Ngoài ra, họ còn đạt được một thứ khác vĩ đại hơn, đó là sự hài lòng của Allah. Tất cả những gì được hứa hẹn là sự chiến thắng vinh quang, chiến thắng vĩ đại mà không chiến thắng nào sánh bằng.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• سبب العذاب للكفار والمنافقين واحد في كل العصور، وهو إيثار الدّنيا على الآخرة والاستمتاع بها، وتكذيب الأنبياء والمكر والخديعة والغدر بهم.
* Một nguyên nhân khiến tất cả những kẻ vô đức tin và Munafiq ở mọi thời đại bị trừng phạt là đam mê cuộc sống trần gian hơn Đời Sau, phủ nhận tất cả Nabi, hãm hại và lừa gạt họ.

• إهلاك الأمم والأقوام الغابرة بسبب كفرهم وتكذيبهم الأنبياء فيه عظة وعبرة للمعتبر من العقلاء.
* Các hình ảnh hủy diệt những cộng đồng thời trước vì nguyên nhân vô đức tin và phủ nhận giới Nabi là bài học khuyên răn cho những người biết suy nghĩ.

• أهل الإيمان رجالًا ونساء أمة واحدة مترابطة متعاونة متناصرة، قلوبهم متحدة في التوادّ والتحابّ والتعاطف.
* Tất cả những người có đức tin Iman dù nam hay nữ là một khối thống nhất, họ luôn đùm bọc, đoàn kết, giúp đỡ, hỗ trợ cho nhau, con tim của họ luôn quan tâm, luôn lo lắng, luôn vị tha và tôn trọng lẫn nhau.

• رضا رب الأرض والسماوات أكبر من نعيم الجنات؛ لأن السعادة الروحانية أفضل من الجسمانية.
* Sự hài lòng của Đấng Chúa Tể các tầng trời và trái đất là sự hưởng thu vĩ đại nhất trong Thiên Đàng, bởi sự hưởng thụ tâm hồn tốt hơn nhiều so với sự hưởng thụ thể xác.

يَٰٓأَيُّهَا ٱلنَّبِيُّ جَٰهِدِ ٱلۡكُفَّارَ وَٱلۡمُنَٰفِقِينَ وَٱغۡلُظۡ عَلَيۡهِمۡۚ وَمَأۡوَىٰهُمۡ جَهَنَّمُۖ وَبِئۡسَ ٱلۡمَصِيرُ
Hỡi Thiên Sứ! Ngươi hãy dùng kiếm mà chiến đấu với những kẻ vô đức tin và Ngươi hãy dùng ngôn luận và chứng cứ để đấu tranh với những tên Munafiq, Ngươi hãy đứng vững lập trường đối với cả hai nhóm người này. Chúng là như thế, vào Ngày Phán Xét nơi ở của chúng sẽ là Hỏa Ngục, một nơi ở tồi tệ nhất.
अरबी व्याख्याहरू:
يَحۡلِفُونَ بِٱللَّهِ مَا قَالُواْ وَلَقَدۡ قَالُواْ كَلِمَةَ ٱلۡكُفۡرِ وَكَفَرُواْ بَعۡدَ إِسۡلَٰمِهِمۡ وَهَمُّواْ بِمَا لَمۡ يَنَالُواْۚ وَمَا نَقَمُوٓاْ إِلَّآ أَنۡ أَغۡنَىٰهُمُ ٱللَّهُ وَرَسُولُهُۥ مِن فَضۡلِهِۦۚ فَإِن يَتُوبُواْ يَكُ خَيۡرٗا لَّهُمۡۖ وَإِن يَتَوَلَّوۡاْ يُعَذِّبۡهُمُ ٱللَّهُ عَذَابًا أَلِيمٗا فِي ٱلدُّنۡيَا وَٱلۡأٓخِرَةِۚ وَمَا لَهُمۡ فِي ٱلۡأَرۡضِ مِن وَلِيّٖ وَلَا نَصِيرٖ
Những kẻ Munafiq đã thề dối trá bằng danh nghĩa của Allah rằng chúng đã không nói những gì mà Ngươi (Muhammad) đã nghe được như việc xúc phạm Ngươi và bêu xấu tôn giáo của Ngươi, nhưng thật ra chúng đã nói như thế, chúng đã lộ diện bản chất vô đức tin sau khi đã cố gắng thể hiện là người tin tưởng, chúng đã có ý định loại trừ Ngươi nhưng chưa thực hiện được. Chúng đã bác bỏ mọi thứ ngoại trừ một thứ, đó là Allah đã cho chúng giàu có bằng chính những chiến lợi phẩm đã ban cho Thiên Sứ của Ngài. Nếu như chúng biết ăn năn quay lại sám hối thì đó là giải pháp tốt cho chúng, còn nếu chúng quay lưng bỏ đi thì sẽ bị Allah trừng phạt bằng cực hình đau đớn ở trần gian như giết chóc và giam cầm và một cực hình khác ở Đời Sau bằng Hỏa Ngục. Và chúng sẽ không có bất cứ ai dám đứng ra bênh vực cũng như bảo vệ thoát khỏi hình phạt khủng khiếp đó.
अरबी व्याख्याहरू:
۞ وَمِنۡهُم مَّنۡ عَٰهَدَ ٱللَّهَ لَئِنۡ ءَاتَىٰنَا مِن فَضۡلِهِۦ لَنَصَّدَّقَنَّ وَلَنَكُونَنَّ مِنَ ٱلصَّٰلِحِينَ
Và một số người Munafiq hứa hẹn với Allah bằng lời khẳng định: Nếu như chúng tôi được Ngài ban cho thiên lộc từ Ngài, nhất định chúng tôi sẽ bố thí và sẽ trở thành nhóm người ngoan đạo trong việc làm của mình.
अरबी व्याख्याहरू:
فَلَمَّآ ءَاتَىٰهُم مِّن فَضۡلِهِۦ بَخِلُواْ بِهِۦ وَتَوَلَّواْ وَّهُم مُّعۡرِضُونَ
Đến khi Allah Toàn Năng ban cho chúng thiên lộc của Ngài thì chúng lại không thực hiện đúng lời đã hứa hẹn với Allah, ngược lại, chúng trở nên keo kiệt giữ chặt tài sản của chúng, không chịu bố thí bất cứ gì và chúng ngoảnh mặt với đức tin Iman.
अरबी व्याख्याहरू:
فَأَعۡقَبَهُمۡ نِفَاقٗا فِي قُلُوبِهِمۡ إِلَىٰ يَوۡمِ يَلۡقَوۡنَهُۥ بِمَآ أَخۡلَفُواْ ٱللَّهَ مَا وَعَدُوهُ وَبِمَا كَانُواْ يَكۡذِبُونَ
Từ đó, chúng bị kết tội là ngụy tạo Islam trong con tim của chúng cho đến Ngày Tận Thế; một hậu quả dành cho chúng do chúng đã lật lọng lời đã giao ước với Allah và giả dối với Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
أَلَمۡ يَعۡلَمُوٓاْ أَنَّ ٱللَّهَ يَعۡلَمُ سِرَّهُمۡ وَنَجۡوَىٰهُمۡ وَأَنَّ ٱللَّهَ عَلَّٰمُ ٱلۡغُيُوبِ
Phải chăng những kẻ Munafiq không biết rằng Allah luôn biết tận tường mọi âm mưu và kế hoạch mà chúng đã bàn bạc với nhau hay sao? Trong khi Allah Toàn Năng am tường mọi thứ vô hình, không có hành động nào của họ có thể che giấu được Ngài và Ngài sẽ phạt chúng theo các việc làm của chúng.
अरबी व्याख्याहरू:
ٱلَّذِينَ يَلۡمِزُونَ ٱلۡمُطَّوِّعِينَ مِنَ ٱلۡمُؤۡمِنِينَ فِي ٱلصَّدَقَٰتِ وَٱلَّذِينَ لَا يَجِدُونَ إِلَّا جُهۡدَهُمۡ فَيَسۡخَرُونَ مِنۡهُمۡ سَخِرَ ٱللَّهُ مِنۡهُمۡ وَلَهُمۡ عَذَابٌ أَلِيمٌ
Chúng đã chỉ trích những người có đức tin trong việc tự nguyện bố thí nhiều của cải và những ai chỉ bố thí chút đỉnh theo khả năng của mình. Chúng lấy những người đó ra nhạo báng mà nói: Làm được gì với thứ ít ỏi đó? Thế là chúng đã bị Allah đáp trả lại bằng chính sự nhạo báng mà chúng đã đối xử với những người có đức tin và chúng sẽ phải gánh chịu cực hình đau đớn.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• وجوب جهاد الكفار والمنافقين، فجهاد الكفار باليد وسائر أنواع الأسلحة الحربية، وجهاد المنافقين بالحجة واللسان.
* Bắt buộc phải đấu tranh với những kẻ vô đức tin và Munafiq. Đối với những kẻ vô đức tin thì dùng tay cùng với các loại vũ khí mà chiến đấu còn đối với những kẻ Munafiq thì đấu tranh bằng tranh luận và chứng cứ.

• المنافقون من شرّ الناس؛ لأنهم غادرون يقابلون الإحسان بالإساءة.
* Những kẻ Munafiq là nhóm người xấu xa nhất trong thiên hạ, bởi họ luôn dùng cách hèn hạ để đáp trả lòng tốt của người khác.

• في الآيات دلالة على أن نقض العهد وإخلاف الوعد يورث النفاق، فيجب على المسلم أن يبالغ في الاحتراز عنه.
* Các câu Kinh là bằng chứng rằng bội ước và lật lọng về điều gì đã được thống nhất là hành động của những kẻ Munafiq, cho nên tín đồ Muslim cần cố gắng giữ chứ tín và lời hứa.

• في الآيات ثناء على قوة البدن والعمل، وأنها تقوم مقام المال، وهذا أصل عظيم في اعتبار أصول الثروة العامة والتنويه بشأن العامل.
* Các câu Kinh ca ngợi sức mạnh của thể xác và lao động, nó thay thế cho tiền bạc và được xem là nguồn gốc vĩ đại của sự giàu có.

ٱسۡتَغۡفِرۡ لَهُمۡ أَوۡ لَا تَسۡتَغۡفِرۡ لَهُمۡ إِن تَسۡتَغۡفِرۡ لَهُمۡ سَبۡعِينَ مَرَّةٗ فَلَن يَغۡفِرَ ٱللَّهُ لَهُمۡۚ ذَٰلِكَ بِأَنَّهُمۡ كَفَرُواْ بِٱللَّهِ وَرَسُولِهِۦۗ وَٱللَّهُ لَا يَهۡدِي ٱلۡقَوۡمَ ٱلۡفَٰسِقِينَ
Ngươi - hỡi Thiên Sứ - dù có cầu xin sự tha thứ cho chúng hoặc không cầu xin sự tha thứ cho chúng, thậm chí Ngươi có cầu xin tha thứ cho chúng đến bảy mươi lần thì Allah cũng không bao giờ tha thứ cho chúng, bởi chúng đã vô đức tin nơi Allah và Thiên Sứ của Ngài. Và Allah không hề hướng dẫn nhóm người cố tình rời khỏi giáo lý của Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
فَرِحَ ٱلۡمُخَلَّفُونَ بِمَقۡعَدِهِمۡ خِلَٰفَ رَسُولِ ٱللَّهِ وَكَرِهُوٓاْ أَن يُجَٰهِدُواْ بِأَمۡوَٰلِهِمۡ وَأَنفُسِهِمۡ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِ وَقَالُواْ لَا تَنفِرُواْ فِي ٱلۡحَرِّۗ قُلۡ نَارُ جَهَنَّمَ أَشَدُّ حَرّٗاۚ لَّوۡ كَانُواْ يَفۡقَهُونَ
Những kẻ Munafiq rất vui mừng khi được ở nhà mà không phải đi tham chiến cùng với Thiên Sứ của Allah trong trận Tabuk. Chúng đã nghịch lại lệnh của Thiên Sứ và căm ghét phải sung tài sản và sinh mạng của họ vào cuộc chiến vì chính nghĩa của Allah như những người có đức tin. Chúng tác động đến những tên Munafiq như chúng: "Các ngươi chớ xuất binh trong nắng nóng." Quả thật trận chiến Tabuk diễn ra dưới cái nóng cháy da nhưng Ngươi - Hỡi Thiên Sứ ! - hãy nói cho chúng biết đi rằng lửa của Hỏa Ngục đang chờ đợi nhóm Munafiq có sức nóng còn khủng khiếp hơn cái nóng mà chúng đã cố chạy trốn, giá như chúng biết được điều đó.
अरबी व्याख्याहरू:
فَلۡيَضۡحَكُواْ قَلِيلٗا وَلۡيَبۡكُواْ كَثِيرٗا جَزَآءَۢ بِمَا كَانُواْ يَكۡسِبُونَ
Cứ mặc cho những kẻ Munafiq cười đùa đôi chút trong cuộc sống tạm bợ này, rồi đây chúng sẽ phải khóc thật nhiều cho cuộc sống trường tồn ở Đời Sau, một phần thưởng dành cho những gì mà chúng đã tích lũy được từ sự vô đức tin, tội lỗi và phản nghịch ở trần gian.
अरबी व्याख्याहरू:
فَإِن رَّجَعَكَ ٱللَّهُ إِلَىٰ طَآئِفَةٖ مِّنۡهُمۡ فَٱسۡتَـٔۡذَنُوكَ لِلۡخُرُوجِ فَقُل لَّن تَخۡرُجُواْ مَعِيَ أَبَدٗا وَلَن تُقَٰتِلُواْ مَعِيَ عَدُوًّاۖ إِنَّكُمۡ رَضِيتُم بِٱلۡقُعُودِ أَوَّلَ مَرَّةٖ فَٱقۡعُدُواْ مَعَ ٱلۡخَٰلِفِينَ
Nếu như Allah có đưa Ngươi - hỡi Thiên Sứ - trở lại gặp một nhóm thuộc thành phần những kẻ Munafiq quyết không từ bỏ bản chất ngụy trang Islam của mình để chúng xin phép Ngươi được tham chiến cùng Ngươi ở các trận chiến khác, Ngươi hãy bảo chúng: Các ngươi - hỡi những kẻ Munafiq - sẽ không bao giờ còn cơ hội tham chiến cùng Ta vì chính nghĩa của Allah. Đó là hình phạt dành cho các ngươi, đề phòng xảy ra những hậu quả đáng tiếc khi các ngươi tham chiến cùng Ta, bởi ngay từ đầu các ngươi chỉ muốn được ở nhà để không tham chiến trận Tabuk, các ngươi cứ tiếp tục ở lại cùng những người bệnh tật, phụ nữ và trẻ con.
अरबी व्याख्याहरू:
وَلَا تُصَلِّ عَلَىٰٓ أَحَدٖ مِّنۡهُم مَّاتَ أَبَدٗا وَلَا تَقُمۡ عَلَىٰ قَبۡرِهِۦٓۖ إِنَّهُمۡ كَفَرُواْ بِٱللَّهِ وَرَسُولِهِۦ وَمَاتُواْ وَهُمۡ فَٰسِقُونَ
Và Ngươi - hỡi Thiên Sứ - chớ dâng lễ nguyện Salah cho bất cứ người chết nào trong số chúng và cũng chớ đứng tại mộ của hắn để cầu xin sự tha thứ cho hắn. Sở dĩ như thế là chúng vốn vô đức tin nơi Allah và phủ nhận Thiên Sứ của Ngài và chúng đã chết trên tình trạng bất tuân Allah. Tương tự, bất cứ ai đã chết giống tình trạng của chúng thì không được hành lễ Salah và cầu xin sự tha thứ cho y.
अरबी व्याख्याहरू:
وَلَا تُعۡجِبۡكَ أَمۡوَٰلُهُمۡ وَأَوۡلَٰدُهُمۡۚ إِنَّمَا يُرِيدُ ٱللَّهُ أَن يُعَذِّبَهُم بِهَا فِي ٱلدُّنۡيَا وَتَزۡهَقَ أَنفُسُهُمۡ وَهُمۡ كَٰفِرُونَ
Và Ngươi - hỡi Thiên Sứ - đừng để tài sản của những kẻ Munafiq đó cũng như con cái của chúng khiến Ngươi ngưỡng mộ. Quả thật, chẳng qua Allah muốn dùng những thứ đó để trừng phạt chúng trong cuộc sống trần gian này, khiến chúng gặp nhiều khó khăn và tai ương nhiều hơn để lúc linh hồn chúng rời khỏi thể xác thì chúng vẫn là nhóm người vô đức tin.
अरबी व्याख्याहरू:
وَإِذَآ أُنزِلَتۡ سُورَةٌ أَنۡ ءَامِنُواْ بِٱللَّهِ وَجَٰهِدُواْ مَعَ رَسُولِهِ ٱسۡتَـٔۡذَنَكَ أُوْلُواْ ٱلطَّوۡلِ مِنۡهُمۡ وَقَالُواْ ذَرۡنَا نَكُن مَّعَ ٱلۡقَٰعِدِينَ
Và khi Allah thiên khải xuống một chương Kinh nào đó cho Thiên Sứ của Ngài có mang sắc lệnh buộc phải có đức tin nơi Allah và xuất binh Jihad vì chính nghĩa của Ngài thì số người giàu có trong số chúng liền xin phép Ngươi cho chúng được ở lại quê nhà, chúng nói: Xin cho chúng tôi được ở lại cùng với những người yếu đuối không tham chiến.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• الكافر لا ينفعه الاستغفار ولا العمل ما دام كافرًا.
* Việc cầu xin sự tha thứ và việc làm ngoan đạo không giúp ích gì cho người vô đức tin.

• الآيات تدل على قصر نظر الإنسان، فهو ينظر غالبًا إلى الحال والواقع الذي هو فيه، ولا ينظر إلى المستقبل وما يتَمَخَّض عنه من أحداث.
* Các câu Kinh khẳng định tầm nhìn hạn hẹp của con người, đó là họ chỉ nhìn vào những gì đang xảy ra chứ không hề nhìn xa hơn về tương lai và cũng không xem xét sâu hơn về các sự kiện.

• التهاون بالطاعة إذا حضر وقتها سبب لعقوبة الله وتثبيطه للعبد عن فعلها وفضلها.
* Sự lơ là trong việc hoàn thành bổn phận khi đã đến giờ giấc của nó là nguyên nhân bị Allah trừng phạt và Ngài thất vọng đối với người bề tôi yêu thích sự việc đó.

• في الآيات دليل على مشروعية الصلاة على المؤمنين، وزيارة قبورهم والدعاء لهم بعد موتهم، كما كان النبي صلى الله عليه وسلم يفعل ذلك في المؤمنين.
* Các câu Kinh là bằng chứng qui định hành lễ Salah cho những người có đức tin khi họ chết, được phéviếng thăm mồ mả của họ, cầu xin sự tha thứ cho họ sau khi họ chết, giống như Thiên Sứ đã làm đối với những người có đức tin.

رَضُواْ بِأَن يَكُونُواْ مَعَ ٱلۡخَوَالِفِ وَطُبِعَ عَلَىٰ قُلُوبِهِمۡ فَهُمۡ لَا يَفۡقَهُونَ
Nhóm Munafiq này đã bằng lòng cho bản thân chúng bị nhục nhã và bị khinh rẻ khi chấp nhận ở lại nhà cùng những người có lý do không tham chiến và rồi con tim của chúng đã bị Allah bao trùm bằng sự vô đức tin và sự ngụy tạo Islam nên chúng không sao nhận thức được điều nào tốt cho mình.
अरबी व्याख्याहरू:
لَٰكِنِ ٱلرَّسُولُ وَٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ مَعَهُۥ جَٰهَدُواْ بِأَمۡوَٰلِهِمۡ وَأَنفُسِهِمۡۚ وَأُوْلَٰٓئِكَ لَهُمُ ٱلۡخَيۡرَٰتُۖ وَأُوْلَٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡمُفۡلِحُونَ
Riêng về Thiên Sứ và những người có đức tin cùng với Ngươi không hề trốn tránh việc Jihad vì chính nghĩa của Allah, ngược lại, họ luôn ở trong tư thế sẵn sàng, chấp nhận hi sinh cả tài sản lẫn sinh mạng vì chính nghĩa của Allah. Thế nên họ được Allah dành cho phần thưởng tốt đẹp ở trần gian bằng sự thắng lợi và thu được chiến lợi phẩm. Họ còn được hưởng phần thưởng vĩ đại khác ở Đời Sau như được vào Thiên Đàng, đạt được điều họ muốn và được tránh khỏi mọi thứ họ sợ.
अरबी व्याख्याहरू:
أَعَدَّ ٱللَّهُ لَهُمۡ جَنَّٰتٖ تَجۡرِي مِن تَحۡتِهَا ٱلۡأَنۡهَٰرُ خَٰلِدِينَ فِيهَاۚ ذَٰلِكَ ٱلۡفَوۡزُ ٱلۡعَظِيمُ
Allah chào đón họ bằng những Ngôi Vườn Thiên Đàng với những dòng sông chảy bên dưới những tòa lâu đài, họ ở trong đó mãi mãi, không có sự kết thúc. Phần thưởng đó là sự chiến thắng vĩ đại mà không niềm vui nào so sánh đặng.
अरबी व्याख्याहरू:
وَجَآءَ ٱلۡمُعَذِّرُونَ مِنَ ٱلۡأَعۡرَابِ لِيُؤۡذَنَ لَهُمۡ وَقَعَدَ ٱلَّذِينَ كَذَبُواْ ٱللَّهَ وَرَسُولَهُۥۚ سَيُصِيبُ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ مِنۡهُمۡ عَذَابٌ أَلِيمٞ
Và một nhóm người thuộc dân Ả-rập vùng sa mạc của Madinah và số người khác sống xung quanh lần lượt tìm đến Thiên Sứ của Allah để xin phép được không tham chiến vì chính nghĩa của Allah. Tuy nhiên, có nhóm người khác vốn đã không tin tưởng Nabi và không tin vào lời hứa hẹn của Allah nên đã bất cần đến việc phải xin phép ở lại hay không, nhóm người vô đức tin này sẽ gặp phải cực hình đau đớn.
अरबी व्याख्याहरू:
لَّيۡسَ عَلَى ٱلضُّعَفَآءِ وَلَا عَلَى ٱلۡمَرۡضَىٰ وَلَا عَلَى ٱلَّذِينَ لَا يَجِدُونَ مَا يُنفِقُونَ حَرَجٌ إِذَا نَصَحُواْ لِلَّهِ وَرَسُولِهِۦۚ مَا عَلَى ٱلۡمُحۡسِنِينَ مِن سَبِيلٖۚ وَٱللَّهُ غَفُورٞ رَّحِيمٞ
Không có tội đối với phụ nữ, trẻ em, người bệnh, người già, người mù, người nghèo không có tiền bạc để trang bị cho cuộc chiến cho dù họ có ở lại quê nhà không tham chiến, bởi họ có lý do miễn sao họ luôn thật lòng với Allah và Thiên Sứ của Ngài, biết tuân thủ theo giáo luật của Ngài, đặc biệt là những người sùng đạo trong số những người này lại càng không có đường nào để trừng phạt họ cả, và Allah sẵn sàng tha thứ cho người sùng đạo và khoan dung với họ.
अरबी व्याख्याहरू:
وَلَا عَلَى ٱلَّذِينَ إِذَا مَآ أَتَوۡكَ لِتَحۡمِلَهُمۡ قُلۡتَ لَآ أَجِدُ مَآ أَحۡمِلُكُمۡ عَلَيۡهِ تَوَلَّواْ وَّأَعۡيُنُهُمۡ تَفِيضُ مِنَ ٱلدَّمۡعِ حَزَنًا أَلَّا يَجِدُواْ مَا يُنفِقُونَ
Và cũng không bị bắt tội đối với những ai đã tìm đến Ngươi - hỡi Thiên Sứ - yêu cầu Ngươi hỗ trợ họ vật cưỡi để tham chiến, Ngươi đã trả lời họ: Ta không có vật cưỡi nào để hỗ trợ cho các ngươi cả, thế là họ phải quay lưng đi trong buồn bã và đôi mắt họ ngấn lệ vì họ không tìm được bất cứ thứ gì để đóng góp cho cuộc Jihad.
अरबी व्याख्याहरू:
۞ إِنَّمَا ٱلسَّبِيلُ عَلَى ٱلَّذِينَ يَسۡتَـٔۡذِنُونَكَ وَهُمۡ أَغۡنِيَآءُۚ رَضُواْ بِأَن يَكُونُواْ مَعَ ٱلۡخَوَالِفِ وَطَبَعَ ٱللَّهُ عَلَىٰ قُلُوبِهِمۡ فَهُمۡ لَا يَعۡلَمُونَ
Sau khi trình bày về việc không có đường nào để trừng phạt những người có lý do chính đáng không tham chiến, Ngài đề cập đến những kẻ đáng bị trừng phạt qua lời phán: Hình phạt chỉ để dành cho những kẻ giàu có, sở hữu đầy đủ phương tiện tham chiến nhưng lại xin phép Ngươi - hỡi Thiên Sứ - được ở nhà, nhóm người này mới đáng bị trừng vì chúng chấp nhận sự ô nhục cho bản thân khi chọn lấy việc ở lại nhà cùng những người không thể tham chiến, và chúng đã bị Allah đóng kín con tim lại nên đã không tiếp thu được bất cứ lời khuyên bảo nào. Vì con tim bị đóng kín nên chúng đã không nhận thấy được đâu là điều tốt để làm và đâu là điều xấu để tránh.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• المجاهدون سيحصِّلون الخيرات في الدنيا، وإن فاتهم هذا فلهم الفوز بالجنة والنجاة من العذاب في الآخرة.
* Những người tham gia Jihad sẽ đạt được nhiều điều tốt đẹp ở trần gian, nếu họ không đạt được chúng thì ở Đời Sau họ sẽ đạt được Thiên Đàng và tránh được sự trừng phạt.

• الأصل أن المحسن إلى الناس تكرمًا منه لا يؤاخَذ إن وقع منه تقصير.
* Người sùng đạo vốn luôn được thiên hạ tôn trọng, nếu lỡ phạm phải những thiếu sót vẫn không bị khiển trách.

• أن من نوى الخير، واقترن بنيته الجازمة سَعْيٌ فيما يقدر عليه، ثم لم يقدر- فإنه يُنَزَّل مَنْزِلة الفاعل له.
* Đối với ai đã định tâm làm việc tốt và tận lực thực hiện nó nhưng bất thành thì y vẫn được hưởng ân phước của người hoàn thành nó.

• الإسلام دين عدل ومنطق؛ لذلك أوجب العقوبة والمأثم على المنافقين المستأذنين وهم أغنياء ذوو قدرة على الجهاد بالمال والنفس.
* Islam là tôn giáo công bằng và hợp lẽ, cho nên phải trừng phạt và bắt tội đối với nhóm Munafiq giàu có đủ khả năng về tài chính và sức khỏe để tham chiến nhưng lại xin phép không tham chiến.

يَعۡتَذِرُونَ إِلَيۡكُمۡ إِذَا رَجَعۡتُمۡ إِلَيۡهِمۡۚ قُل لَّا تَعۡتَذِرُواْ لَن نُّؤۡمِنَ لَكُمۡ قَدۡ نَبَّأَنَا ٱللَّهُ مِنۡ أَخۡبَارِكُمۡۚ وَسَيَرَى ٱللَّهُ عَمَلَكُمۡ وَرَسُولُهُۥ ثُمَّ تُرَدُّونَ إِلَىٰ عَٰلِمِ ٱلۡغَيۡبِ وَٱلشَّهَٰدَةِ فَيُنَبِّئُكُم بِمَا كُنتُمۡ تَعۡمَلُونَ
Những kẻ Munafiq (nhóm đạo đức giả) đã không tham gia cuộc chiến đưa ra những lời bào chữa trước những người Muslim khi họ trở về từ cuộc chiến. Allah đã hướng dẫn Thiên Sứ của Ngài và những người có đức tin đáp trả lại những kẻ Munafiq này: Các người đừng xin lỗi với những lời bào chữa dối trá, chúng tôi không tin vào những điều các người đã nói với chúng tôi. Quả thật, Allah đã báo cho chúng tôi biết những điều ẩn chứa trong lòng các người, và Allah cùng với Sứ Giả của Ngài sẽ quan sát hành động của các người: Hoặc các người sẽ ăn năn, sám hồi rồi Ngài sẽ chấp nhận sự sám hối của các người, hoặc các người sẽ tiếp tục dối trá? Cuối cùng các người cũng sẽ được đưa về trình diện với Allah Đấng Am Tường Tất Cả, Ngài sẽ báo cho các người biết rõ về các việc mà các người đã từng làm, và theo đó Ngài sẽ thưởng phạt các người, thế nên hãy nhanh chóng đến với sự sám hối và làm những việc ngoan đạo.
अरबी व्याख्याहरू:
سَيَحۡلِفُونَ بِٱللَّهِ لَكُمۡ إِذَا ٱنقَلَبۡتُمۡ إِلَيۡهِمۡ لِتُعۡرِضُواْ عَنۡهُمۡۖ فَأَعۡرِضُواْ عَنۡهُمۡۖ إِنَّهُمۡ رِجۡسٞۖ وَمَأۡوَىٰهُمۡ جَهَنَّمُ جَزَآءَۢ بِمَا كَانُواْ يَكۡسِبُونَ
Những kẻ không tham gia cuộc chiến, họ sẽ thề thốt với danh nghĩa của Allah khi các ngươi - hỡi những người có đức tin - trở về từ cuộc chiến để đưa ra những lí do bào chữa giả dối khi họ không tham chiến, để các người không đổ lỗi và khiển trách họ nữa, các người hãy bỏ mặc họ, hãy xa lánh họ, quả thật họ là những kẻ có lòng dạ bẩn thỉu, rồi nơi trú ngụ của họ sẽ là Hỏa Ngục. Đó là phần hình phạt dành cho những gì họ đã phạm phải từ bản tính đạo đức giả và những tội lỗi.
अरबी व्याख्याहरू:
يَحۡلِفُونَ لَكُمۡ لِتَرۡضَوۡاْ عَنۡهُمۡۖ فَإِن تَرۡضَوۡاْ عَنۡهُمۡ فَإِنَّ ٱللَّهَ لَا يَرۡضَىٰ عَنِ ٱلۡقَوۡمِ ٱلۡفَٰسِقِينَ
Những kẻ không tham gia cuộc chiến thề thốt với các ngươi - hỡi những người có đức tin - hồng để các ngươi hài lòng với họ, và chấp nhận những lời biện hộ từ họ, nhưng các ngươi chớ có hài lòng về họ bởi nếu các ngươi có hài lòng về họ thì quả thật các ngươi đã làm trái với Thượng Đế của các ngươi, vì Ngài không hài lòng với những kẻ không tuân phục Ngài bằng sự phủ nhận và đạo đức giả. Các ngươi hãy thận trọng - hỡi những người Muslim - phải chăng các ngươi hài lòng với những kẻ mà Allah không hài lòng về họ ư.
अरबी व्याख्याहरू:
ٱلۡأَعۡرَابُ أَشَدُّ كُفۡرٗا وَنِفَاقٗا وَأَجۡدَرُ أَلَّا يَعۡلَمُواْ حُدُودَ مَآ أَنزَلَ ٱللَّهُ عَلَىٰ رَسُولِهِۦۗ وَٱللَّهُ عَلِيمٌ حَكِيمٞ
Những người Ả Rập du mục nếu họ là những người phủ nhận hoặc đạo đức giả thì sự phủ nhận của họ nghiêm trọng hơn rất nhiều so với những người ở phố thị, và sự đạo đức giả của họ cũng nặng nề hơn những người ở phố, và họ đứng đầu trong sự thiếu hiểu biết về tôn giáo, và họ cũng là những người không biết gì về điều bắt buộc, về điều Sunnah luôn cả những nền tảng giáo lý đã được mặc khải cho vị Sứ Giả của Allah. Bởi vì họ là những người khô cằn về tình cảm và sống độc lập. Allah hằng biết về họ, không có gì có thể che giấuđược Ngài, Ngài khôn ngoan trong sự quản lý và ban giáo luật.
अरबी व्याख्याहरू:
وَمِنَ ٱلۡأَعۡرَابِ مَن يَتَّخِذُ مَا يُنفِقُ مَغۡرَمٗا وَيَتَرَبَّصُ بِكُمُ ٱلدَّوَآئِرَۚ عَلَيۡهِمۡ دَآئِرَةُ ٱلسَّوۡءِۗ وَٱللَّهُ سَمِيعٌ عَلِيمٞ
Trong những dân cư Ả-rập du mục giả tạo đức tin cho rằng tài sản chi dùng cho con đường chính nghĩa của Allah là sự thua thiệt mất mát hoặc như là tiền phạt, bởi vì họ cho rằng tài sản chi dùng ấy không mang lại ân phước và nếu có giữ lại cũng không bị Allah bắt phạt. Mặc dù vậy, đôi khi họ lại chi dùng để mọi người nhìn thấy và không bị bàn tán. Họ chờ đợi những tai họa sẽ xảy đến với các ngươi - hỡi những người có đức tin - để họ thoát khỏi mọi điều xấu xa đến từ các ngươi. Tuy nhiên, Allah đã làm cho những gì họ mong đợi xảy ra với chính bản thân họ, bởi Allah hằng nghe những gì họ nói và hằng biết những gì họ che giấu.
अरबी व्याख्याहरू:
وَمِنَ ٱلۡأَعۡرَابِ مَن يُؤۡمِنُ بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ وَيَتَّخِذُ مَا يُنفِقُ قُرُبَٰتٍ عِندَ ٱللَّهِ وَصَلَوَٰتِ ٱلرَّسُولِۚ أَلَآ إِنَّهَا قُرۡبَةٞ لَّهُمۡۚ سَيُدۡخِلُهُمُ ٱللَّهُ فِي رَحۡمَتِهِۦٓۚ إِنَّ ٱللَّهَ غَفُورٞ رَّحِيمٞ
Và cũng trong những người dân Ả Rập du mục, có những người tin tưởng Allah và tin vào Ngày Phán Xử Cuối Cùng và họ tin những của cải mà họ chi dùng cho chính nghĩa của Allah khiến họ được đến gần với Allah và là phương tiện để nhận được lời cầu xin của Sứ Giả và được sự tha thứ tội lỗi. Há chẳng phải việc chi dùng cho chính nghĩa của Allah và lời cầu xin từ Thiên Sứ cho họ sẽ khiến cho họ đến gần với Allah hơn hay sao! Họ sẽ được phần thưởng và sẽ được Allah cho họ vào lòng thương xót của Ngài mà bao gồm trong đó là sự tha thứ tội lỗi và Thiên Đàng của Ngài. Quả thật, Allah hết mực tha thứ cho những ai quay lại sám hối trong đám bầy tôi của Ngài, Ngài rất độ lượng với họ.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• ميدان العمل والتكاليف خير شاهد على إظهار كذب المنافقين من صدقهم.
* Khu vực làm việc và chỗ thực hiện nhiệm vụ là nơi tốt nhất để nhìn thấy sự dối trá của những tên đạo đức giả.

• أهل البادية إن كفروا فهم أشد كفرًا ونفاقًا من أهل الحضر؛ لتأثير البيئة.
* Những cư dân Ả Rập du mục, vùng quê nếu họ phủ nhận hay đạo đức giả thì sự phủ nhận hoặc đạo đức giả của họ sẽ trầm trọng hơn những cư dân vùng phố xá, do tác động của môi trường sống.

• الحض على النفقة في سبيل الله مع إخلاص النية، وعظم أجر من فعل ذلك.
* Khuyến khích chi dùng tài sản cho con đường chính nghĩa của Allah bằng sự thành tâm và ân phước to lớn của việc làm đó.

• فضيلة العلم، وأن فاقده أقرب إلى الخطأ.
* Tầm quan trọng của kiến thức, nếu đánh mất kiến thức thì đó là con đường gần nhất dẫn đến sự sai sót.

وَٱلسَّٰبِقُونَ ٱلۡأَوَّلُونَ مِنَ ٱلۡمُهَٰجِرِينَ وَٱلۡأَنصَارِ وَٱلَّذِينَ ٱتَّبَعُوهُم بِإِحۡسَٰنٖ رَّضِيَ ٱللَّهُ عَنۡهُمۡ وَرَضُواْ عَنۡهُ وَأَعَدَّ لَهُمۡ جَنَّٰتٖ تَجۡرِي تَحۡتَهَا ٱلۡأَنۡهَٰرُ خَٰلِدِينَ فِيهَآ أَبَدٗاۚ ذَٰلِكَ ٱلۡفَوۡزُ ٱلۡعَظِيمُ
Những người tiên phong đến với đức tin từ những người Muhajirin - những người rời bỏ nhà cửa và quê hương của họ đến với Allah -, những người Ansar đã trợ giúp vị Sứ Giả của họ, và những người đầu tiên đi theo những người Muhajirin và cư dân Ansar để đến với sự tốt đẹp về đức tin, lời nói và việc làm là những người được Allah hài lòng và họ cũng hài lòng về Ngài khi Ngài ban cho họ phần thưởng vĩ đại. Và Ngài đã chuẩn bị cho họ các Ngôi Vườn Thiên Đàng bên dưới có các dòng sông chảy và họ sẽ ở trong đó đời đời. Đó là phần thưởng vĩ đại dành cho những người chiến thắng.
अरबी व्याख्याहरू:
وَمِمَّنۡ حَوۡلَكُم مِّنَ ٱلۡأَعۡرَابِ مُنَٰفِقُونَۖ وَمِنۡ أَهۡلِ ٱلۡمَدِينَةِ مَرَدُواْ عَلَى ٱلنِّفَاقِ لَا تَعۡلَمُهُمۡۖ نَحۡنُ نَعۡلَمُهُمۡۚ سَنُعَذِّبُهُم مَّرَّتَيۡنِ ثُمَّ يُرَدُّونَ إِلَىٰ عَذَابٍ عَظِيمٖ
Và một số dân chúng Ả Rập du mục sống xung quanh Madinah và một số dân cư của Madinah là những tên đạo đức giả, họ luôn cố sống trong sự giả dối, Ngươi - hỡi Thiên Sứ - không nhận biết được họ nhưng Allah biết rõ về họ, Ngài sẽ trừng phạt họ đến hai lần, một lần trên thế gian bằng cách vạch trần thân phận giả tạo đức tin của họ, họ bị giết và bị bắt làm tù binh; và một lần khác ở Ngày Sau bằng hình phạt trong cõi mộ, rồi tiếp tục bị trừng phạt khủng khiếp hơn khi bị đày vào tầng đáy của Hỏa Ngục.
अरबी व्याख्याहरू:
وَءَاخَرُونَ ٱعۡتَرَفُواْ بِذُنُوبِهِمۡ خَلَطُواْ عَمَلٗا صَٰلِحٗا وَءَاخَرَ سَيِّئًا عَسَى ٱللَّهُ أَن يَتُوبَ عَلَيۡهِمۡۚ إِنَّ ٱللَّهَ غَفُورٞ رَّحِيمٌ
và một số cư dân khác của Madinah đã không tham gia chiến đấu một cách không có lý do nhưng họ đã thú nhận tội lỗi đó và họ đã không nêu những lý do dối trá, họ đã pha trộn những giữa việc làm tốt đẹp trước đây của họ về sự tuân phục Allah và tuân thủ các luật lệ của Ngài, và chiến đấu trên con đường của Ngài với những việc làm xấu. Hi vọng Allah tha thứ cho tội lỗi của họ và bỏ qua cho họ. Bởi quả thật Allah luôn tha thứ và đoái thương cho những bề tôi quay về sám hối với Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
خُذۡ مِنۡ أَمۡوَٰلِهِمۡ صَدَقَةٗ تُطَهِّرُهُمۡ وَتُزَكِّيهِم بِهَا وَصَلِّ عَلَيۡهِمۡۖ إِنَّ صَلَوٰتَكَ سَكَنٞ لَّهُمۡۗ وَٱللَّهُ سَمِيعٌ عَلِيمٌ
Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy lấy tài sản của họ mà xuất Zakat để tẩy sạch họ từ những ô uế của sự bất tuân và tội lỗi và làm tăng ân phước cho họ qua việc làm Zakat đó, và Ngươi hãy cầu nguyện cho họ sau khi đã Zakat thay họ. Quả thật, lời cầu nguyện của Ngươi là sự thương xót và là sự bảo đảm cho họ, và Allah hằng nghe và biết những việc làm cũng như ý định của họ.
अरबी व्याख्याहरू:
أَلَمۡ يَعۡلَمُوٓاْ أَنَّ ٱللَّهَ هُوَ يَقۡبَلُ ٱلتَّوۡبَةَ عَنۡ عِبَادِهِۦ وَيَأۡخُذُ ٱلصَّدَقَٰتِ وَأَنَّ ٱللَّهَ هُوَ ٱلتَّوَّابُ ٱلرَّحِيمُ
Để những người không tham chiến và những người hối cải tội lỗi của họ với Allah biết rằng Allah hằng chấp nhận sự sám hối của những bầy tôi biết quay về với Ngài, và quả thật Ngài chấp nhận của bố thí và Ngài rất mực giàu có. Ngài sẽ trả lại xứng đáng cho những người bố thí phần mà họ đã bố thí, và quả thật Ngài hằng quay lại tha thứ cho những bầy tôi trở về sám hối với Ngài, Ngài rất mực khoan dung với họ.
अरबी व्याख्याहरू:
وَقُلِ ٱعۡمَلُواْ فَسَيَرَى ٱللَّهُ عَمَلَكُمۡ وَرَسُولُهُۥ وَٱلۡمُؤۡمِنُونَۖ وَسَتُرَدُّونَ إِلَىٰ عَٰلِمِ ٱلۡغَيۡبِ وَٱلشَّهَٰدَةِ فَيُنَبِّئُكُم بِمَا كُنتُمۡ تَعۡمَلُونَ
Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy bảo những người đã không tham chiến và những người đã sám hối tội lỗi của họ: Hãy cố mà chịu đựng những thiệt hại đã qua mà hãy thành tâm trong việc làm vì Allah, và hãy làm những việc mà Allah hài lòng, rồi Allah và Thiên Sứ của Ngài cũng như những người tin tưởng sẽ quan sát việc làm của các người, và các người sẽ được đưa trở về gặp lại Thượng Đế của các người, Đấng Am Tường tất cả mọi việc, Ngài biết điều vô hình và hữu hình, rồi Ngài sẽ cho các người biết những việc mà các ngươi đã làm trên thế gian này và Ngài sẽ ban thưởng các ngươi về điều đó.
अरबी व्याख्याहरू:
وَءَاخَرُونَ مُرۡجَوۡنَ لِأَمۡرِ ٱللَّهِ إِمَّا يُعَذِّبُهُمۡ وَإِمَّا يَتُوبُ عَلَيۡهِمۡۗ وَٱللَّهُ عَلِيمٌ حَكِيمٞ
Và trong những người không tham gia trận chiến Tabuk mà không có lý do. Họ là những người nằm trong án treo chờ quyết định của Allah và phán quyết của Ngài, Ngài phán xử họ theo những gì Ngài muốn, hoặc là Ngài sẽ trừng phạt nếu họ không quay lại sám hối tội lỗi với Ngài hoặc Ngài sẽ tha thứ cho họ nếu họ chịu sám hối tội lỗi. Allah biết ai là người đáng sẽ bị trừng phạt, và ai đáng nhận được sự tha thứ từ Ngài, Đấng thông lãm trong giáo luật và trong quản lý, những người không tham chiến bao gồm: Murarah bin Al-Rabi'a, Ka'ab bin Malik và Hilal bin Umayah.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• فضل المسارعة إلى الإيمان، والهجرة في سبيل الله، ونصرة الدين، واتباع طريق السلف الصالح.
* Ân phước của việc nhanh chóng tìm đến đức tin, và di cư đến con đường của Allah, trợ giúp tôn giáo, và đi theo con đường của những tiền bối ngoan đạo.

• استئثار الله عز وجل بعلم الغيب، فلا يعلم أحد ما في القلوب إلا الله.
* Chỉ một mình Allah Đấng Tối Cao biết điều vô hình, không một ai có thể biết được những gì trong trái tim ngoại trừ Allah.

• الرجاء لأهل المعاصي من المؤمنين بتوبة الله عليهم ومغفرته لهم إن تابوا وأصلحوا عملهم.
* Hy vọng những người làm điều tội lỗi từ những người có đức tin được Allah chấp nhận sự hối cải và tha thứ tội lỗi cho họ nếu họ ăn năn và làm những việc làm tốt đẹp.

• وجوب الزكاة وبيان فضلها وأثرها في تنمية المال وتطهير النفوس من البخل وغيره من الآفات.
* Zakah là nghĩa vụ bắt buộc, trình bày lợi ích cũng như ân phúc của việc Zakah sẽ làm tăng thêm tài sản và tẩy sạch bản thân khỏi bản tính keo kiệt và từ những bản tính xấu khác.

وَٱلَّذِينَ ٱتَّخَذُواْ مَسۡجِدٗا ضِرَارٗا وَكُفۡرٗا وَتَفۡرِيقَۢا بَيۡنَ ٱلۡمُؤۡمِنِينَ وَإِرۡصَادٗا لِّمَنۡ حَارَبَ ٱللَّهَ وَرَسُولَهُۥ مِن قَبۡلُۚ وَلَيَحۡلِفُنَّ إِنۡ أَرَدۡنَآ إِلَّا ٱلۡحُسۡنَىٰۖ وَٱللَّهُ يَشۡهَدُ إِنَّهُمۡ لَكَٰذِبُونَ
Và trong số những kẻ đạo đức giả, họ cũng xây dựng Masjid nhưng không phải để tôn thờ Allah mà để làm hại những người Muslim, và phơi bày sự phủ nhận để làm lớn mạnh những kẻ đạo đức giả, và để chia rẽ những người có đức tin, họ chuẩn bị và chờ đợi kẻ gây chiến chống Allah và Sứ Giả của Ngài bằng cách xây dựng Masjid. Tuy nhiên, họ vẫn thề thốt với các ngươi: Chúng tôi không nghĩ gì ngoại trừ muốn thương xót những người Muslim, nhưng Allah xác nhận chúng là những kẻ nói dối.
अरबी व्याख्याहरू:
لَا تَقُمۡ فِيهِ أَبَدٗاۚ لَّمَسۡجِدٌ أُسِّسَ عَلَى ٱلتَّقۡوَىٰ مِنۡ أَوَّلِ يَوۡمٍ أَحَقُّ أَن تَقُومَ فِيهِۚ فِيهِ رِجَالٞ يُحِبُّونَ أَن يَتَطَهَّرُواْۚ وَٱللَّهُ يُحِبُّ ٱلۡمُطَّهِّرِينَ
Với Masjid như thế, Ngươi - hỡi Thiên Sứ - không được đáp lại lời mời gọi của những kẻ đạo đức giả khi họ mời Ngươi đến cầu nguyện trong đó. Quả thật, Quba' là Masjid đầu tiên được xây dựng trên lòng kính sợ Allah xứng đáng để cầu nguyện trong đó hơn Masjid mà họ xây dựng trên vô đức tin. Trong Masjid Quba' có người yêu thích việc thanh sạch bản thân từ những chất dơ, ô uế bằng nước, và tẩy sạch những tội lỗi với sự sám hối và cầu xin sự tha thứ, và Allah yêu thương những người luôn tẩy sạch khỏi chất dơ, ô uế và tội lỗi.
अरबी व्याख्याहरू:
أَفَمَنۡ أَسَّسَ بُنۡيَٰنَهُۥ عَلَىٰ تَقۡوَىٰ مِنَ ٱللَّهِ وَرِضۡوَٰنٍ خَيۡرٌ أَم مَّنۡ أَسَّسَ بُنۡيَٰنَهُۥ عَلَىٰ شَفَا جُرُفٍ هَارٖ فَٱنۡهَارَ بِهِۦ فِي نَارِ جَهَنَّمَۗ وَٱللَّهُ لَا يَهۡدِي ٱلۡقَوۡمَ ٱلظَّٰلِمِينَ
Chẳng lẽ những người xây dựng Masjid trên lòng ngay chính sợ Allah và luôn tuân theo mệnh lệnh của Ngài và tránh xa những gì Ngài cấm và muốn được sự hài lòng từ Allah trong sự mở rộng những việc làm tốt đẹp lại ngang bằng với người xây dựng Masjid để làm hại những người có đức tin và để làm tăng sự phủ nhận cũng như để chia rẽ giữa những người tin tưởng? Chắc chắn không bao giờ có sự ngang bằng đó! Cái đầu tiên được xây dựng với cấu trúc bền vững và không sợ bị sụp đổ và cái thứ hai giống như được xây trên miệng hố sẽ bị hủy hoại sụp đổ xuống đáy của Hỏa Ngục cùng với y. Vì Allah không hướng dẫn đám người hư đốn bằng sự phủ nhận đức tin và đạo đức giả và những người tương tự.
अरबी व्याख्याहरू:
لَا يَزَالُ بُنۡيَٰنُهُمُ ٱلَّذِي بَنَوۡاْ رِيبَةٗ فِي قُلُوبِهِمۡ إِلَّآ أَن تَقَطَّعَ قُلُوبُهُمۡۗ وَٱللَّهُ عَلِيمٌ حَكِيمٌ
Masjid mà họ đã xây dựng sẽ vẫn gây hại, tạo ra sự ngờ vực và đạo đức giả. Nó vẫn tồn tại trong con tim của bọn họ trừ phi trái tim của họ bị cắt đi bởi cái chết hoặc bị giết bằng lưỡi kiếm. Allah hằng biết và thông suốt những việc làm của đám bầy tôi của Ngài, Ngài rất mực khôn ngoan trong việc xét xử, Ngài sẽ thưởng phạt cho việc làm tốt hoặc xấu.
अरबी व्याख्याहरू:
۞ إِنَّ ٱللَّهَ ٱشۡتَرَىٰ مِنَ ٱلۡمُؤۡمِنِينَ أَنفُسَهُمۡ وَأَمۡوَٰلَهُم بِأَنَّ لَهُمُ ٱلۡجَنَّةَۚ يُقَٰتِلُونَ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِ فَيَقۡتُلُونَ وَيُقۡتَلُونَۖ وَعۡدًا عَلَيۡهِ حَقّٗا فِي ٱلتَّوۡرَىٰةِ وَٱلۡإِنجِيلِ وَٱلۡقُرۡءَانِۚ وَمَنۡ أَوۡفَىٰ بِعَهۡدِهِۦ مِنَ ٱللَّهِۚ فَٱسۡتَبۡشِرُواْ بِبَيۡعِكُمُ ٱلَّذِي بَايَعۡتُم بِهِۦۚ وَذَٰلِكَ هُوَ ٱلۡفَوۡزُ ٱلۡعَظِيمُ
Quả thật, Allah đã mua sinh mạng của những người có đức tin - trong khi họ là nô lệ của Allah - bằng phần thưởng vô cùng lớn, đó là Thiên Đàng, khi họ đã chiến đấu chống lại những kẻ phủ nhận để giơ cao đại danh của Allah. Họ đã giết địch và bị địch giết và Allah đã hứa cho họ bằng một lời hứa xác thực trong Tawrah - Kinh Sách được ban cho Musa, và trong Injil - Kinh Sách được ban cho Ysa, và trong Qur'an - Kinh Sách được mặc khải cho Sứ Giả Muhammad. Và không một ai giữ trọn lời hứa hơn Allah Tối Cao. Bởi thế, các ngươi hãy hoan hỉ và vui mừng hỡi những người có đức tin bởi sự đổi chác mà các ngươi đã giao dịch với Ngài, quả thật các ngươi đã được phần lời rất lớn trong đó, và cuộc đổi chác đó là một thắng lợi vĩ đại.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• محبة الله ثابتة للمتطهرين من الأنجاس البدنية والروحية.
* Khẳng định tình thương của Allah dành cho những người luôn giữ mình trong sạch khỏi chất dơ bẩn từ thân thể và tâm hồn.

• لا يستوي من عمل عملًا قصد به وجه الله؛ فهذا العمل هو الذي سيبقى ويسعد به صاحبه، مع من قصد بعمله نصرة الكفر ومحاربة المسلمين؛ وهذا العمل هو الذي سيفنى ويشقى به صاحبه.
* Những người hành động vì Allah và những người hành động để hỗ trợ những kẻ phủ nhận Allah và gây chiến với những người có đức tin không hề ngang bằng nhau.

• مشروعية الجهاد والحض عليه كانت في الأديان التي قبل الإسلام أيضًا.
*Jihad là được qui định trong giáo lý và điều được khuyến khích vốn đã có trong các tôn giáo trước Islam.

• كل حالة يحصل بها التفريق بين المؤمنين فإنها من المعاصي التي يتعين تركها وإزالتها، كما أن كل حالة يحصل بها جمع المؤمنين وائتلافهم يتعين اتباعها والأمر بها والحث عليها.
* Tất cả hành động dẫn đến sự chia rẽ giữa những người có đức tin là trọng tội cần phải được loại bỏ. Còn những hành động để đưa đến sự đoàn kết và liên minh giữa những người có đức tin cần được duy trì, cần kêu gọi và khuyến khích đến với nó.

ٱلتَّٰٓئِبُونَ ٱلۡعَٰبِدُونَ ٱلۡحَٰمِدُونَ ٱلسَّٰٓئِحُونَ ٱلرَّٰكِعُونَ ٱلسَّٰجِدُونَ ٱلۡأٓمِرُونَ بِٱلۡمَعۡرُوفِ وَٱلنَّاهُونَ عَنِ ٱلۡمُنكَرِ وَٱلۡحَٰفِظُونَ لِحُدُودِ ٱللَّهِۗ وَبَشِّرِ ٱلۡمُؤۡمِنِينَ
Những người đạt được phần thưởng này là những người từ bỏ những điều Allah cấm và giận dữ để đến với những gì Ngài yêu thương và hài lòng; những người sợ hãi và khiêm tốn trước Allah, nhanh chóng phục tùng Ngài; nhhững người tán dương Thượng Đế của họ ở mọi tình huống trong mọi hoàn cảnh; những người nhịn chay; những người dâng lễ nguyện Salah, và những người kêu gọi những điều mà Allah và Sứ Giả của Ngài kêu gọi, ngăn cấm những gì mà Allah và Thiên Sứ của Ngài cấm; những người giữ gìn việc tuân theo mệnh lệnh của Allah và tránh xa những điều Ngài nghiêm cấm. Và Ngươi - hỡi Sứ Giả - hãy báo tin mừng cho những người có đức tin với những mô tả ấy rằng họ sẽ được hạnh phúc trong đời này và cả Đời Sau.
अरबी व्याख्याहरू:
مَا كَانَ لِلنَّبِيِّ وَٱلَّذِينَ ءَامَنُوٓاْ أَن يَسۡتَغۡفِرُواْ لِلۡمُشۡرِكِينَ وَلَوۡ كَانُوٓاْ أُوْلِي قُرۡبَىٰ مِنۢ بَعۡدِ مَا تَبَيَّنَ لَهُمۡ أَنَّهُمۡ أَصۡحَٰبُ ٱلۡجَحِيمِ
Nabi và những người có đức tin không được phép cầu xin Allah tha thứ cho những người dân thờ đa thần cho dù đó là bà con ruột thịt của họ, sau khi đã chứng minh rõ ràng rằng những người họ hàng đó là những người bạn của Hỏa Ngục, bởi vì họ đã chết trong tình trạng thờ đa thần.
अरबी व्याख्याहरू:
وَمَا كَانَ ٱسۡتِغۡفَارُ إِبۡرَٰهِيمَ لِأَبِيهِ إِلَّا عَن مَّوۡعِدَةٖ وَعَدَهَآ إِيَّاهُ فَلَمَّا تَبَيَّنَ لَهُۥٓ أَنَّهُۥ عَدُوّٞ لِّلَّهِ تَبَرَّأَ مِنۡهُۚ إِنَّ إِبۡرَٰهِيمَ لَأَوَّٰهٌ حَلِيمٞ
Và nguyên nhân khiến Ibrahim phải cầu xin Allah tha thứ cho người cha của mình là vì Người đã hứa với cha Người rằng Người cầu xin cho ông, với hi vọng là ông sẽ phủ phục Allah. Nhưng sau khi Ibrahim biết rõ rằng cha của Người là kẻ thù của Allah và những lời khuyên giải không còn ý nghĩa gì nữa, hoặc sau khi được mặc khải biết ông sẽ chết với tình trạng phủ nhận đức tin thì Người đã đoạn tuyệt với ông. Thật ra lời cầu xin đó chỉ bắt nguồn từ tấm lòng nhân hậu của Người, chứ Người không cố ý nghịch lại lời mặc khải của Allah. Quả thật Ibrahim [cầu xin sự bằng an và phước lành cho Người] rất nhanh nhẹn trong việc hối cải và thường xuyên xí xóa mọi lỗi lầm mà dân chúng đã hại mình.
अरबी व्याख्याहरू:
وَمَا كَانَ ٱللَّهُ لِيُضِلَّ قَوۡمَۢا بَعۡدَ إِذۡ هَدَىٰهُمۡ حَتَّىٰ يُبَيِّنَ لَهُم مَّا يَتَّقُونَۚ إِنَّ ٱللَّهَ بِكُلِّ شَيۡءٍ عَلِيمٌ
Và Allah đã không phán quyết ai là kẻ lầm lạc sau khi Ngài đã ban cho họ sự hướng dẫn mãi đến khi Ngài giải thích cho họ thấy những điều cấm kỵ để họ biết mà tránh. Nhưng nếu họ phạm phải những điều cấm sau khi Ngài đã giải thích rõ thì Ngài sẽ phán quyết họ là những người lạc lối. Quả thật, Allah am tường mọi việc, không có gì có thể che giấu được Ngài, và chắc chắn Ngài đã dạy cho các ngươi mọi thứ trong khi trước đây các ngươi không biết gì cả.
अरबी व्याख्याहरू:
إِنَّ ٱللَّهَ لَهُۥ مُلۡكُ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِۖ يُحۡيِۦ وَيُمِيتُۚ وَمَا لَكُم مِّن دُونِ ٱللَّهِ مِن وَلِيّٖ وَلَا نَصِيرٖ
Quả thật, Allah nắm quyền thống trị các tầng trời và trái đất, hoàn toàn không có đối tác cùng với Ngài trong đó. Không gì có thể che giấu được Ngài. Ngài ban sự sống cho ai Ngài muốn và làm chết người nào Ngài muốn. Thế còn các ngươi - hỡi nhân loại - ngoài Allah các ngươi không có vị bảo hộ nào có thể giải quyết những vấn đề của các ngươi, và các ngươi không có một vị cứu tin nào có thể cứu các người khỏi những điều xấu xa, và giúp các ngươi chiến thắng kẻ thù.
अरबी व्याख्याहरू:
لَّقَد تَّابَ ٱللَّهُ عَلَى ٱلنَّبِيِّ وَٱلۡمُهَٰجِرِينَ وَٱلۡأَنصَارِ ٱلَّذِينَ ٱتَّبَعُوهُ فِي سَاعَةِ ٱلۡعُسۡرَةِ مِنۢ بَعۡدِ مَا كَادَ يَزِيغُ قُلُوبُ فَرِيقٖ مِّنۡهُمۡ ثُمَّ تَابَ عَلَيۡهِمۡۚ إِنَّهُۥ بِهِمۡ رَءُوفٞ رَّحِيمٞ
Quả thật, Allah hằng quay lại tha thứ cho Nabi Muhammad [cầu xin bình an và phúc lành cho Người] khi Người cho phép những kẻ đạo đức giả không tham gia chiến đấu trong trận Tabuk, và Ngài cũng tha thứ cho những những người Muhajirin (những người di cư từ Makkah đến Madinah) và tha thứ cho những người Ansar (cư dân Madinah) họ đã không từ bỏ Người mà luôn sát cánh cùng với Người trong trận chiến Tabuk cho dù phải đối mặt với sức nóng khắc nghiệt của thời tiết và quân trang thô sơ đối chọi với sức mạnh của kẻ thù; mặc dù có một số trái tim có xu hướng từ bỏ cuộc chiến khi vấp phải sự khó khăn, thiếu thốn. Nhưng Allah đã làm họ vững vàng và xung trận, Ngài đã tha thứ cho họ, bởi quả thật Ngài Tối Cao luôn khoan hồng và thương xót họ, và trong sự thương xót của Ngài là chấp nhận sự sám hối, ăn năn từ họ.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• بطلان الاحتجاج على جواز الاستغفار للمشركين بفعل إبراهيم عليه السلام.
* Vô hiệu việc cầu xin Allah tha thứ cho những người thờ đa thần dựa theo hành động Ibrahim [cầu xin bằng an và phúc lành cho Người].

• أن الذنوب والمعاصي هي سبب المصائب والخذلان وعدم التوفيق.
* Tội lỗi và việc làm xấu xa là nguyên nhân gây ra tai họa, bị bỏ rơi và không được phù hộ.

• أن الله هو مالك الملك، وهو ولينا، ولا ولي ولا نصير لنا من دونه.
* Quả thật, Allah là Đấng Chúa Tể của vũ trụ, Ngài là Đấng Bảo Hộ cho chúng ta, không có sự bảo hộ hay giúp đỡ nào ngoại trừ từ Ngài.

• بيان فضل أصحاب النبي صلى الله عليه وسلم على سائر الناس.
* Trình bày hông phúc và địa vị vượt trội của các vị Sahabah só với tất cả những ai khác họ.

وَعَلَى ٱلثَّلَٰثَةِ ٱلَّذِينَ خُلِّفُواْ حَتَّىٰٓ إِذَا ضَاقَتۡ عَلَيۡهِمُ ٱلۡأَرۡضُ بِمَا رَحُبَتۡ وَضَاقَتۡ عَلَيۡهِمۡ أَنفُسُهُمۡ وَظَنُّوٓاْ أَن لَّا مَلۡجَأَ مِنَ ٱللَّهِ إِلَّآ إِلَيۡهِ ثُمَّ تَابَ عَلَيۡهِمۡ لِيَتُوبُوٓاْۚ إِنَّ ٱللَّهَ هُوَ ٱلتَّوَّابُ ٱلرَّحِيمُ
Quả thật, Allah đã tha thứ cho ba người gồm Ka'ab bin Malik, Murarah bin Al-Rabi'a và Hilal bin Umaiyah, là những người đã bị khước từ sự sám hối và trì hoãn chấp nhận sám hối của họ khi họ đã không xuất chinh cùng với Thiên Sứ [cầu xin bình an và phúc lành cho Người] đến Tabuk. Và Nabi đã ra lệnh người dân rời bỏ họ làm cho họ rất buồn bã và phiền muộn đến nỗi trái đất như thu hẹp lại cho dù rất nó rộng lớn và thênh thang vì lòng ngực thu hẹp lại do sự cô đơn. Và họ biết rằng không có nơi nào cho họ trú ngụ ngoại trừ đến với riêng một mình Allah. Ngài đã quay lại tha thứ và chấp nhận sự ăn năn của họ bởi quả thật, Ngài là Đấng hằng tha thứ những bầy tôi của Ngài, luôn thương xót họ.
अरबी व्याख्याहरू:
يَٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ ٱتَّقُواْ ٱللَّهَ وَكُونُواْ مَعَ ٱلصَّٰدِقِينَ
Hỡi những người đã tin nơi Allah, đã tuân theo Thiên Sứ của Ngài và đã làm theo giáo luật mà Ngài đã quy định, các ngươi hãy kính sợ Allah bằng cách tuân thủ những mệnh lệnh của Ngài, và hãy tránh xa những gì Ngài cấm, hãy nhập đoàn với những người chân thật trong đức tin, trong lời nói và hành động. Sẽ không có sự cứu rỗi cho các ngươi nêu không có sự chân thật.
अरबी व्याख्याहरू:
مَا كَانَ لِأَهۡلِ ٱلۡمَدِينَةِ وَمَنۡ حَوۡلَهُم مِّنَ ٱلۡأَعۡرَابِ أَن يَتَخَلَّفُواْ عَن رَّسُولِ ٱللَّهِ وَلَا يَرۡغَبُواْ بِأَنفُسِهِمۡ عَن نَّفۡسِهِۦۚ ذَٰلِكَ بِأَنَّهُمۡ لَا يُصِيبُهُمۡ ظَمَأٞ وَلَا نَصَبٞ وَلَا مَخۡمَصَةٞ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِ وَلَا يَطَـُٔونَ مَوۡطِئٗا يَغِيظُ ٱلۡكُفَّارَ وَلَا يَنَالُونَ مِنۡ عَدُوّٖ نَّيۡلًا إِلَّا كُتِبَ لَهُم بِهِۦ عَمَلٞ صَٰلِحٌۚ إِنَّ ٱللَّهَ لَا يُضِيعُ أَجۡرَ ٱلۡمُحۡسِنِينَ
Dân chúng của Madinah và những người du mục sống xung quanh không được bỏ mặc Thiên Sứ của Allah [cầu xin sự bình an và phúc lành cho Người] khi Người đích thân dẫn binh chinh chiến, và họ không được ít kỷ mạng sống của mình và bảo vệ nó hơn mạng sống của Thiên Sứ [cầu xin sự bình an và phúc lành cho Người], mà bắt buộc họ phải đổi mạng sống của họ cho mạng sống của Người. Với bất cứ hình thức khó khăn nào mà họ gặp phải trên đường chinh chiến như đói khát, mệt mỏi, hoặc họ xuống ở vị trí mà có mặt của họ làm cho những người không có đức tin phẫn nộ, hoặc họ bị tổn hại bởi sự giết chóc, bị bắt làm tù binh, bị bại trận ... tất cả đều được Allah ghi chép đó là việc làm công đức của họ. Quả thật, Allah sẽ không làm mất phần thưởng của những người làm điều thiện tốt mà Ngài ban cho họ thật đầy đủ và còn thêm cho họ nữa.
अरबी व्याख्याहरू:
وَلَا يُنفِقُونَ نَفَقَةٗ صَغِيرَةٗ وَلَا كَبِيرَةٗ وَلَا يَقۡطَعُونَ وَادِيًا إِلَّا كُتِبَ لَهُمۡ لِيَجۡزِيَهُمُ ٱللَّهُ أَحۡسَنَ مَا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ
Không có sự chi dùng tài sản nào dù ít hay nhiều và không có sự khổ ải nào cũng như không có việc vượt qua các thung lũng nào bị bỏ sót, tất cả đều được ghi công đầy đủ. Rồi Allah sẽ trọng thưởng cho họ phần thưởng ở Đời Sau tốt hơn những điều mà họ đã làm.
अरबी व्याख्याहरू:
۞ وَمَا كَانَ ٱلۡمُؤۡمِنُونَ لِيَنفِرُواْ كَآفَّةٗۚ فَلَوۡلَا نَفَرَ مِن كُلِّ فِرۡقَةٖ مِّنۡهُمۡ طَآئِفَةٞ لِّيَتَفَقَّهُواْ فِي ٱلدِّينِ وَلِيُنذِرُواْ قَوۡمَهُمۡ إِذَا رَجَعُوٓاْ إِلَيۡهِمۡ لَعَلَّهُمۡ يَحۡذَرُونَ
Và những người có đức tin không bắt buộc tất cả phải đi chiến đấu để những người ở lại khỏi bị kẻ thù tấn công. Vì vậy hãy tham chiến với một nhóm người trong họ và hãy ở lại một nhóm đồng hành cùng với Thiên Sứ của Allah [cầu xin bằng an và phước lành cho Người] để trao dồi kiến thức tôn giáo qua việc giảng truyền của Người từ Qur'an và những giáo luật Shariah, và để cảnh báo người dân khi quay về với họ từ những gì các người chưa học hỏi được. Hi vọng với cảnh báo đó họ biết cách tránh xa sự trừng phạt của Allah, biết tuân theo mệnh lệnh và tránh xa những điều Ngài cấm. Và đó là đội quân được Thiên Sứ của Allah gửi đến các khu vực, và Người đã chọn cho đội quân đó những bạn đạo của Người.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• وجوب تقوى الله والصدق وأنهما سبب للنجاة من الهلاك.
* Bắt buộc phải có lòng kính sợ Allah và phải trung thực, đó là hai nguyên nhân để cứu rỗi khỏi sự hủy diệt.

• عظم فضل النفقة في سبيل الله.
* Ân phước vĩ đại của việc chi dùng cho con đường chính nghĩa của Allah.

• وجوب التفقُّه في الدين مثله مثل الجهاد، وأنه لا قيام للدين إلا بهما معًا.
* Bắt buộc phải học hỏi kiến thức trong tôn giáo như Jihad, và quả thật tôn giáo sẽ không đứng vững ngoại trừ hội tụ hai điều đó.

يَٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ قَٰتِلُواْ ٱلَّذِينَ يَلُونَكُم مِّنَ ٱلۡكُفَّارِ وَلۡيَجِدُواْ فِيكُمۡ غِلۡظَةٗۚ وَٱعۡلَمُوٓاْ أَنَّ ٱللَّهَ مَعَ ٱلۡمُتَّقِينَ
Allah Tối Cao ra lệnh cho những người có đức tin chiến đấu với những kẻ ngoại đạo đang ở gần, vì họ là nguyên nhân gây ra sự nguy hiểm cho các tín đồ có đức tin khi họ ở gần, và Ngài cũng ra lệnh cho những người có đức tin thể hiện sức mạnh bởi vì sự đe dọa khủng bố của những kẻ phủ nhận và để chống lại cái tàn ác của họ. Allah Tối Cao luôn sát cánh cùng với những người có đức tin bằng sự giúp đỡ và hỗ trợ từ Ngài.
अरबी व्याख्याहरू:
وَإِذَا مَآ أُنزِلَتۡ سُورَةٞ فَمِنۡهُم مَّن يَقُولُ أَيُّكُمۡ زَادَتۡهُ هَٰذِهِۦٓ إِيمَٰنٗاۚ فَأَمَّا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ فَزَادَتۡهُمۡ إِيمَٰنٗا وَهُمۡ يَسۡتَبۡشِرُونَ
Và khi Allah mặc khải chương Kinh cho vị Sứ Giả [cầu xin bình an và phúc lành cho Người] của Ngài thì một số trong những kẻ đạo đức giả đã hỏi bằng những lời nhạo báng và châm biếm: "Ai trong số các vị sẽ tăng thêm đức tin từ chương Kinh đã được mặc khải cho Muhammad?" Riêng những người có đức tin với Allah và thật lòng với Thiên Sứ của Ngài thì sẽ tăng thêm đức tin chồng lên đức tin trước đây của họ và họ hoan hỉ từ những gì đã được mặc khải xuống vì trong sự mặc khải đó mang lại lợi ích cho họ trong trần gian và cả Ngày Sau.
अरबी व्याख्याहरू:
وَأَمَّا ٱلَّذِينَ فِي قُلُوبِهِم مَّرَضٞ فَزَادَتۡهُمۡ رِجۡسًا إِلَىٰ رِجۡسِهِمۡ وَمَاتُواْ وَهُمۡ كَٰفِرُونَ
Còn đối với những tên đạo đức giả thì sự mặc khải Thiên Kinh Quran mà trong đó chứa đựng những giáo luật và những câu chuyện chỉ làm cho bệnh tình trong lòng của họ thêm trầm trọng vì sự dối trá của họ về những gì được mặc khải. Căn bệnh trong lòng họ trầm trọng thêm khi sự mặc khải Qur'an tăng lên. Bởi vì họ luôn nghi ngờ khi nghe những lời mặc khải và họ chết trong tình trạng phủ nhận đức tin.
अरबी व्याख्याहरू:
أَوَلَا يَرَوۡنَ أَنَّهُمۡ يُفۡتَنُونَ فِي كُلِّ عَامٖ مَّرَّةً أَوۡ مَرَّتَيۡنِ ثُمَّ لَا يَتُوبُونَ وَلَا هُمۡ يَذَّكَّرُونَ
Há những kẻ đạo đức giả chúng không nhìn thấy những tai họa từ Allah giáng lên họ để phơi bày tình trạng và phơi bày đạo đức giả của họ mỗi năm một hoặc hai lần hay sao? Sau những tai họa chúng biết rằng quả thật Allah chính là Đấng đã làm điều đó nhưng chúng vẫn không chịu ăn năn sám hối với Allah, và chúng không từ bỏ thói đạo đức giả, và cũng không chịu nghĩ những tai họa đã đến với chúng quả thật từ Allah.
अरबी व्याख्याहरू:
وَإِذَا مَآ أُنزِلَتۡ سُورَةٞ نَّظَرَ بَعۡضُهُمۡ إِلَىٰ بَعۡضٍ هَلۡ يَرَىٰكُم مِّنۡ أَحَدٖ ثُمَّ ٱنصَرَفُواْۚ صَرَفَ ٱللَّهُ قُلُوبَهُم بِأَنَّهُمۡ قَوۡمٞ لَّا يَفۡقَهُونَ
Và khi Allah ban xuống chương kinh cho vị Sứ Giả [cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho Người] của Ngài trong đó mô tả tình trạng của những kẻ đạo đức giả họ nhìn nhau và hỏi "Có người nào nhìn thấy quí vị hay không?" và nếu ai không nhìn thấy họ thì họ sẽ rời bỏ nơi tụ họp. Chẳng phải Allah đã xoay đổi tấm lòng của họ từ sự hướng dẫn và điều tốt đẹp và bỏ rơi họ bởi vì họ là một đám người không hiểu gì cả.
अरबी व्याख्याहरू:
لَقَدۡ جَآءَكُمۡ رَسُولٞ مِّنۡ أَنفُسِكُمۡ عَزِيزٌ عَلَيۡهِ مَا عَنِتُّمۡ حَرِيصٌ عَلَيۡكُم بِٱلۡمُؤۡمِنِينَ رَءُوفٞ رَّحِيمٞ
Quả thật, đã đến với các người - hỡi người Ả Rập - một vị Sứ Giả xuất thân từ các ngươi, Y cũng là một n người dân ngươi Ả Rập giống như các ngươi. Y đau buồn khi thấy các ngươi đau buồn, Y vô cùng quan tâm đến việc hướng dẫn các ngươi và luôn lo lắng cho các ngươi. Và đặc biệt đối với những tín đồ tin tưởng Y luôn yêu thương và nhân từ với họ.
अरबी व्याख्याहरू:
فَإِن تَوَلَّوۡاْ فَقُلۡ حَسۡبِيَ ٱللَّهُ لَآ إِلَٰهَ إِلَّا هُوَۖ عَلَيۡهِ تَوَكَّلۡتُۖ وَهُوَ رَبُّ ٱلۡعَرۡشِ ٱلۡعَظِيمِ
Nếu họ chống đối Ngươi và không chịu tin tưởng vào những gì Ngươi mang đến thì hãy nói với họ - hỡi Thiên Sứ -: Allah đủ cho Ta, Đấng mà không có Thượng Đế nào khác đáng được thờ phụng ngoài Ngài, duy chỉ Ngài là Thượng đế để thờ phụng và Ngài là Chủ Nhân của chiếc Ngai Vương vĩ đại.
अरबी व्याख्याहरू:
यस पृष्ठको अायतहरूका लाभहरूमध्येबाट:
• وجوب ابتداء القتال بالأقرب من الكفار إذا اتسعت رقعة الإسلام، ودعت إليه حاجة.
* Phải nên bắt đầu chiến đấu với những kẻ ngoại đạo ở nơi gần với họ nhất nếu muốn mở rộng khu vực của Islam, và khi thật sự cần thiết.

• بيان حال المنافقين حين نزول القرآن عليهم وهي الترقُّب والاضطراب.
* Trình bày tình trạng của những tên đạo đức giả lúc Qur'an được mặc khải cho họ thì họ xáo trộn và hỗn loạn.

• بيان رحمة النبي صلى الله عليه وسلم بالمؤمنين وحرصه عليهم.
* Trình bày sự thương xót của Nabi [cầu xin Allah ban bình an và phúc lành cho Người] đối với những người có đức tin và sự quan tâm của Người dành cho họ.

• في الآيات دليل على أن الإيمان يزيد وينقص، وأنه ينبغي للمؤمن أن يتفقد إيمانه ويتعاهده فيجدده وينميه؛ ليكون دائمًا في صعود.
* Những câu Kinh trên là bằng chứng khẳng định đức tin có thể tăng hoặc giảm, và những người có đức tin phải kiểm tra lại đức tin của mình và phải luôn làm mới và gia tăng nó, để cho nó luôn luôn tăng thêm.

 
अर्थको अनुवाद सूरः: सूरतुत्ताैबः
अध्यायहरूको (सूरःहरूको) सूची رقم الصفحة
 
पवित्र कुरअानको अर्थको अनुवाद - पवित्र कुर्आनको संक्षिप्त व्याख्याको भियतनामी भाषामा अनुवाद । - अनुवादहरूको सूची

पवित्र कुर्आनको संक्षिप्त व्याख्याको भियतनामी भाषामा अनुवाद, तफ्सीर सेन्टरद्वारा प्रकाशित ।

बन्द गर्नुस्