ترجمة معاني القرآن الكريم - الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم * - فهرس التراجم


ترجمة معاني سورة: ص
آية:
 

سورة ص - Chương Sad

من مقاصد السورة:
ذكر المخاصمة بالباطل وعاقبتها.
Đề cập đến sự tranh luận sai trái và hậu quả của nó.

صٓۚ وَٱلۡقُرۡءَانِ ذِي ٱلذِّكۡرِ
{Saad}. Phần giảng giải về các chữ cái mở đầu này đã được nói ở phần đầu của chương Al-Baqarah. Thề bởi Thiên Kinh Qur'an chứa đựng những lời nhắc nhở nhân loại về những gì hữu ích cho họ ở trần gian và cả Đời Sau. Sự việc không giống như những tên đa thần đã nghĩ rằng Allah có những kẻ đối tác.
التفاسير العربية:
بَلِ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ فِي عِزَّةٖ وَشِقَاقٖ
Tuy nhiên, những kẻ vô đức tin luôn cứ ngạo mạn không chấp nhận tính duy nhất của Allah và cứ ngoan cố chống đối Thiên Sứ Muhammad - cầu xin Allah ban bình an cho Người - và căm thù Người.
التفاسير العربية:
كَمۡ أَهۡلَكۡنَا مِن قَبۡلِهِم مِّن قَرۡنٖ فَنَادَواْ وَّلَاتَ حِينَ مَنَاصٖ
Có biết bao nhiêu là thế hệ trước chúng đã bị TA tiêu diệt bởi sự phủ nhận các vị Thiên Sứ của Ngài, chúng đã cầu xin sự cứu rỗi khi sự trừng phạt giáng xuống. Nhưng sự cầu xin lúc đó trở nên vô ích.
التفاسير العربية:
وَعَجِبُوٓاْ أَن جَآءَهُم مُّنذِرٞ مِّنۡهُمۡۖ وَقَالَ ٱلۡكَٰفِرُونَ هَٰذَا سَٰحِرٞ كَذَّابٌ
Và chúng tỏ vẻ kinh ngạc khi có một vị Thiên Sứ xuất thân từ chúng đến với chúng cảnh báo chúng về sự trừng phạt của Allah nếu chúng vẫn tiếp tục trong tình trạng vô đức tin của chúng. Và những kẻ vô đức tin này nói khi chúng chứng kiến được những bằng chứng xác thực mà Muhammad - cầu xin Allah ban bình an cho Người - mang đến: " Đây chẳng qua chỉ là một người đàn ông dùng ma thuật để biểu diễn trước thiên hạ, Y là một tên nói dối khi tự xưng là Thiên Sứ của Allah được Ngài mặc khải."
التفاسير العربية:
أَجَعَلَ ٱلۡأٓلِهَةَ إِلَٰهٗا وَٰحِدًاۖ إِنَّ هَٰذَا لَشَيۡءٌ عُجَابٞ
Phải chăng người đàn ông này muốn nhập tất cả các thần linh lại thành một Thân Linh duy nhất, không có thần linh khác ngoài Ngài ư? Quả thật, hành động cho mục đích này của Y quả là một điều quái lạ.
التفاسير العربية:
وَٱنطَلَقَ ٱلۡمَلَأُ مِنۡهُمۡ أَنِ ٱمۡشُواْ وَٱصۡبِرُواْ عَلَىٰٓ ءَالِهَتِكُمۡۖ إِنَّ هَٰذَا لَشَيۡءٞ يُرَادُ
Những tên có địa vị lẫn những kẻ đầu sỏ của chúng bảo những người đi theo: "Các ngươi hãy tiếp tục đi trên những gì các ngươi đang theo, các ngươi chớ đừng đi vào tôn giáo của Muhammad, các ngươi hãy vẫn bám chặt việc thờ thượng các thần linh của các ngươi. Quả thật, những gì Muhammad tuyên truyền kêu gọi các ngươi đến với việc thờ phượng một Thượng Đế duy nhất chẳng qua chỉ là mưu đồ cho một kế hoạch của Y, Y chỉ muốn trở thành lãnh đạo của chúng ta và muốn chúng ta phải đi theo Y mà thôi."
التفاسير العربية:
مَا سَمِعۡنَا بِهَٰذَا فِي ٱلۡمِلَّةِ ٱلۡأٓخِرَةِ إِنۡ هَٰذَآ إِلَّا ٱخۡتِلَٰقٌ
"Muhammad kêu gọi chúng ta thờ phượng một mình Allah. Đây là điều mà chúng ta không hề nghe cũng như không hề thấy trong tín ngưỡng mà tổ tiên của chúng ta đã theo, và ngay cả trong tôn giáo của Ysa - cầu xin bình an cho Người. Những gì chúng ta nghe được từ Y thật ra chỉ là một sự dối trá và bịa đặt."
التفاسير العربية:
أَءُنزِلَ عَلَيۡهِ ٱلذِّكۡرُ مِنۢ بَيۡنِنَاۚ بَلۡ هُمۡ فِي شَكّٖ مِّن ذِكۡرِيۚ بَل لَّمَّا يَذُوقُواْ عَذَابِ
Chẳng lẽ Thiên Kinh Qur'an thực sự được ban xuống cho Y giữa chúng ta như thế này ư?! Nó thực sự được ban xuống cho Y trong khi chúng ta là những người lãnh đạo có địa vị cao trọng ư?! Không, những kẻ đa thần ngờ vực về lời Mặc Khải được truyền xuống cho Ngươi - Muhammad, bởi vì chúng chưa nếm được mùi vị của sự trừng phạt của Allah nên chúng mới cố chấp. Nếu chúng đã nếm được mùi vị hình phạt của Ngài thì chắc chắn chúng chẳng bao giờ dám vô đức tin và Shirk với Ngài nữa cũng như chúng chẳng còn dám nghi ngờ về lời Mặc Khải mà Ngươi mang đến.
التفاسير العربية:
أَمۡ عِندَهُمۡ خَزَآئِنُ رَحۡمَةِ رَبِّكَ ٱلۡعَزِيزِ ٱلۡوَهَّابِ
Hoặc phải chăng những tên đa thần vô đức tin này đang sở hữu một kho tàng Ân Phúc của Thượng Đế của Ngươi - Đấng Toàn Năng, không một ai có thể chế ngự được Ngài; Đấng tùy ý ban bố bổng lộc cho bất kỳ ai Ngài muốn. Và hồng phúc từ trong kho tàng Ân Phúc của Ngài là sứ mạng Nabi, Ngài muốn đưa nó cho ai Ngài muốn. Nó không thuộc quyền sở hữu của chúng để chúng tùy ý đưa hay không đưa cho ai mà chúng muốn.
التفاسير العربية:
أَمۡ لَهُم مُّلۡكُ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِ وَمَا بَيۡنَهُمَاۖ فَلۡيَرۡتَقُواْ فِي ٱلۡأَسۡبَٰبِ
Hoặc phải chăng chúng nắm quyền cai trị các tầng trời và trái đất và vạn vật trong trời đất để chúng quyết định cho hay không cho theo ý của chúng? Nếu chúng đã khẳng định như thế thì hãy chúng hãy tìm cách đi lên trời để định đoạt điều chúng muốn. Và chắc chắn chúng sẽ không bao giờ làm được điều đó.
التفاسير العربية:
جُندٞ مَّا هُنَالِكَ مَهۡزُومٞ مِّنَ ٱلۡأَحۡزَابِ
Những kẻ phủ nhận Muhammad - cầu xin Allah ban bình an cho Người - là đoàn binh vô dụng sẽ bị đánh bại giống như các đội binh đã phủ nhận các vị Thiên Sứ của họ.
التفاسير العربية:
كَذَّبَتۡ قَبۡلَهُمۡ قَوۡمُ نُوحٖ وَعَادٞ وَفِرۡعَوۡنُ ذُو ٱلۡأَوۡتَادِ
Những tên phủ nhận đó không phải là những lớp người phủ nhận đầu tiên; bởi vì trước chúng đã có những cộng đồng đã phủ nhận các vị Thiên Sứ của họ, như đám dân của Nuh, 'Ad và Fir'awn - kẻ đã bức hại và đày ải thiên hạ để sở hữu được những tòa Kim Tự Tháp.
التفاسير العربية:
وَثَمُودُ وَقَوۡمُ لُوطٖ وَأَصۡحَٰبُ لۡـَٔيۡكَةِۚ أُوْلَـٰٓئِكَ ٱلۡأَحۡزَابُ
Và Thamud, dân làng của Lut và dân chúng của Shu'aib cũng đã phủ nhận các Thiên Sứ. Họ là những liên minh phủ nhận các vị Thiên Sứ của họ và vô đức tin nơi những gì mà các Thiên Sứ của họ mang đến.
التفاسير العربية:
إِن كُلٌّ إِلَّا كَذَّبَ ٱلرُّسُلَ فَحَقَّ عِقَابِ
Tất cả nhóm liên minh phủ nhận các vị Thiên Sứ này đây phải nhận lấy sự trừng phạt của Allah. Sự trừng phạt chắc chắn sẽ đến với chúng cho dù có trễ đi chăng nữa.
التفاسير العربية:
وَمَا يَنظُرُ هَـٰٓؤُلَآءِ إِلَّا صَيۡحَةٗ وَٰحِدَةٗ مَّا لَهَا مِن فَوَاقٖ
Và những tên đã phủ nhận Muhammad - cầu xin Allah ban bình an cho Người - chỉ ngóng chờ tiếng còi thứ hai được vang lên, lúc đó chúng không còn có sự quay lại. Chúng sẽ phải nhận lấy một hình phạt nếu chúng chết trong tình trạng vô đức tin của chúng.
التفاسير العربية:
وَقَالُواْ رَبَّنَا عَجِّل لَّنَا قِطَّنَا قَبۡلَ يَوۡمِ ٱلۡحِسَابِ
Và chúng nói một cách chế giễu: "Lạy Thượng Đế của bầy tôi! Xin Ngài nhanh chóng cho số phận bị trừng phạt của bầy tôi mau diễn ra trên cuộc sống thế gian này trước khi Ngày Phán Xét đến."
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أقسم الله عز وجل بالقرآن العظيم، فالواجب تَلقِّيه بالإيمان والتصديق، والإقبال على استخراج معانيه.
* Allah, Đấng Toàn Năng đã thề bởi Thiên Kinh Qur'an vĩ đại. Bởi thế, phải tiếp nhận Nó bằng đức tin và đón nhận những ý nghĩa của Nó.

• غلبة المقاييس المادية في أذهان المشركين برغبتهم في نزول الوحي على السادة والكبراء.
* Các tiêu chuẩn vật chất đã chiếm lấy tâm trí của những kẻ đa thần nên họ cứ mong muốn sự mặc khải phải được mặc khải xuống cho những nhà lãnh đạo, những kẻ có địa vị.

• سبب إعراض الكفار عن الإيمان: التكبر والتجبر والاستعلاء عن اتباع الحق.
* Nguyên nhân những kẻ vô đức tin chống lại đức tin: sự tự cao tự đại không muốn đi theo Chân Lý.


ٱصۡبِرۡ عَلَىٰ مَا يَقُولُونَ وَٱذۡكُرۡ عَبۡدَنَا دَاوُۥدَ ذَا ٱلۡأَيۡدِۖ إِنَّهُۥٓ أَوَّابٌ
Hãy - hỡi Thiên Sứ - ráng kiên nhẫn với những lời nói của những tên vô đức tin ngạo mạn này khiến Ngươi không hài lòng. Và Ngươi hãy nghĩ đến một bề tôi của TA, Dawood, Y là một người rất kiên cường chịu đựng chống lại những kẻ thù của Y và luôn nhẫn nại trong việc tuân lệnh Allah. Quả thật, Y là người bề tôi luôn hằng quay về sám hối với Allah và luôn làm những gì mà Ngài hài lòng.
التفاسير العربية:
إِنَّا سَخَّرۡنَا ٱلۡجِبَالَ مَعَهُۥ يُسَبِّحۡنَ بِٱلۡعَشِيِّ وَٱلۡإِشۡرَاقِ
Chính TA là Đấng đã chế ngự núi non, bắt chúng cùng với Dawood tụng niệm và tán dương TA đêm ngày.
التفاسير العربية:
وَٱلطَّيۡرَ مَحۡشُورَةٗۖ كُلّٞ لَّهُۥٓ أَوَّابٞ
TA (Allah) đã khiến cho chim chóc hợp lại thành đàn trên không trung và tất cả cùng tuân theo Y trong trong việc ca tụng TA.
التفاسير العربية:
وَشَدَدۡنَا مُلۡكَهُۥ وَءَاتَيۡنَٰهُ ٱلۡحِكۡمَةَ وَفَصۡلَ ٱلۡخِطَابِ
Và TA đã củng cố sức mạnh cho Y bằng những thứ như địa vị, thể lực, trí lực và sự chiến thắng trước kẻ thù của Y. TA đã ban cho Y sứ mạng Nabi và sự đúng đắn trong các vụ việc khi đã quyết, và TA cũng đã ban cho Y cách ăn nói thu hút lòng người và sự quyết đoán.
التفاسير العربية:
۞وَهَلۡ أَتَىٰكَ نَبَؤُاْ ٱلۡخَصۡمِ إِذۡ تَسَوَّرُواْ ٱلۡمِحۡرَابَ
Há Ngươi - hỡi Thiên Sứ - có biết về câu chuyện hai người đàn ông thưa kiện nhau rồi họ tự ý trèo tường đột nhập vào phòng thờ phượng riêng của Dawood - cầu xin bình an cho Người - không?.
التفاسير العربية:
إِذۡ دَخَلُواْ عَلَىٰ دَاوُۥدَ فَفَزِعَ مِنۡهُمۡۖ قَالُواْ لَا تَخَفۡۖ خَصۡمَانِ بَغَىٰ بَعۡضُنَا عَلَىٰ بَعۡضٖ فَٱحۡكُم بَيۡنَنَا بِٱلۡحَقِّ وَلَا تُشۡطِطۡ وَٱهۡدِنَآ إِلَىٰ سَوَآءِ ٱلصِّرَٰطِ
Khi cả hai người đột nhập vào gặp Dawood làm cho Y giật mình. Cả hai cùng lên tiếng thưa rằng: "Xin Người đừng hoảng sợ! Bởi vì, cả hai chúng tôi có một sự tranh chấp với nhau vì có chuyện người này chèn ép người kia. Thế nên, chúng tôi đến đây nhờ Người phân xử giùm cho chúng tôi một cách thật công bằng và để không có chuyện bất công xảy ra giữa chúng tôi và cũng xin Người chỉ dẫn chúng tôi đến với con đường hòa thuận êm đẹp."
التفاسير العربية:
إِنَّ هَٰذَآ أَخِي لَهُۥ تِسۡعٞ وَتِسۡعُونَ نَعۡجَةٗ وَلِيَ نَعۡجَةٞ وَٰحِدَةٞ فَقَالَ أَكۡفِلۡنِيهَا وَعَزَّنِي فِي ٱلۡخِطَابِ
Một trong hai người tranh chấp đó thưa với Dawood -cầu xin sự bình an cho Người rằng: "Thật ra, đây là người anh em của tôi (trong đạo), anh ta có chín mươi chín con cừu cái còn tôi thì chỉ có một con cừu cái duy nhất. Thế nhưng, anh ta còn yêu cầu tôi phải đưa con cừu đó cho anh ta. Và anh ta đã thắng tôi trong lý lẽ và lập luận.
التفاسير العربية:
قَالَ لَقَدۡ ظَلَمَكَ بِسُؤَالِ نَعۡجَتِكَ إِلَىٰ نِعَاجِهِۦۖ وَإِنَّ كَثِيرٗا مِّنَ ٱلۡخُلَطَآءِ لَيَبۡغِي بَعۡضُهُمۡ عَلَىٰ بَعۡضٍ إِلَّا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَعَمِلُواْ ٱلصَّـٰلِحَٰتِ وَقَلِيلٞ مَّا هُمۡۗ وَظَنَّ دَاوُۥدُ أَنَّمَا فَتَنَّـٰهُ فَٱسۡتَغۡفَرَ رَبَّهُۥ وَخَرَّۤ رَاكِعٗاۤ وَأَنَابَ۩
Bởi thế, Dawood đứng ra phân xử giữa hai người họ, Người bảo người thưa chuyện với Người rằng người anh em của y đã bất công với y: "Chắc chắn, người anh em của ngươi đã áp bức ngươi về việc y đã yêu cầu ngươi đưa con cừu cái của ngươi nhập chung với bầy cừu của y. Quả thật, đa số trong chuyện hợp tác làm ăn với nhau có rất nhiều người hay lấn lướt nhau bằng sự bất công, ngoại trừ những ai có đức tin và làm những việc làm thiện tốt thì mới có cuộc hợp tác làm ăn công bằng cho dù đó là sự hùn hạp nhỏ. Và rồi Dawood - cầu xin sự bình an cho Người - chợt nhận ra đây chẳng qua là một sự thử thách. Bởi thế, Y lập tức cầu xin Thượng Đế của Y tha thứ và cúi đầu quỳ mọp xuống đất để được gần với Allah rồi Y xám hối trước Ngài.
التفاسير العربية:
فَغَفَرۡنَا لَهُۥ ذَٰلِكَۖ وَإِنَّ لَهُۥ عِندَنَا لَزُلۡفَىٰ وَحُسۡنَ مَـَٔابٖ
Thế nên, TA đáp lại lời cầu xin của Y bằng sự tha thứ những việc làm đó của Y. Quả thật, ở nơi TA luôn dành cho Y một chỗ gần gũi nhất và đó là chỗ tốt nhất mà Ysẽ đến ở Ngày Sau (ngày Phán Xét).
التفاسير العربية:
يَٰدَاوُۥدُ إِنَّا جَعَلۡنَٰكَ خَلِيفَةٗ فِي ٱلۡأَرۡضِ فَٱحۡكُم بَيۡنَ ٱلنَّاسِ بِٱلۡحَقِّ وَلَا تَتَّبِعِ ٱلۡهَوَىٰ فَيُضِلَّكَ عَن سَبِيلِ ٱللَّهِۚ إِنَّ ٱلَّذِينَ يَضِلُّونَ عَن سَبِيلِ ٱللَّهِ لَهُمۡ عَذَابٞ شَدِيدُۢ بِمَا نَسُواْ يَوۡمَ ٱلۡحِسَابِ
Này hỡi Dawood! Quả thật, TA đã chỉ định Ngươi là Người kế vị ở trên trái đất để quán xuyến và phân xử mọi chuyện trong tôn giáo ở trần gian, do đó Ngươi hãy phán xét giữa mọi người bằng sự công bằng, chính trực và Ngươi chớ tham lợi lộc rồi thiên vị trong việc phán xét giữa người này với người kia; Ngươi chớ thiên vị bên nào dù đó là người thân hay bạn bè và Ngươi chớ bất công vì ai đó là người Ngươi thù ghét. Bởi lẽ sự bất công sẽ khiến Ngươi lầm lạc trên con đường ngay thẳng của Allah. Quả thật, những ai lầm lạc trên con đường chính đạo của Allah sẽ bị trừng phạt thật khủng khiếp vì họ đã quên mất đi Ngày Phán Xét; nếu như họ thực sự nghĩ đến Ngày đó và khiếp sợ những gì trong Ngày hôm đó thì chắc chắn sẽ không thiên vị.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• بيان فضائل نبي الله داود وما اختصه الله به من الآيات.
* Trình bày hồng phúc của Nabi Dawood và những gì được Allah nói riêng về Người trong các câu Kinh Qur'an.

• الأنبياء - صلوات الله وسلامه عليهم - معصومون من الخطأ فيما يبلغون عن الله تعالى؛ لأن مقصود الرسالة لا يحصل إلا بذلك، ولكن قد يجري منهم بعض مقتضيات الطبيعة بنسيان أو غفلة عن حكم، ولكن الله يتداركهم ويبادرهم بلطفه.
* Các vị Nabi - cầu xin Allah ban bình an đến cho họ -được bảo vệ khỏi những sai sót trong nhiệm vụ truyền đạt bức thông điệp của Allah bởi mục đích của bức thông điệp là như thế. Tuy nhiên, có thể bởi một số yếu tố tự nhiên nên đôi lúc họ cũng quên hoặc vô ý, nhưng Allah sẽ chỉnh đốn họ lại ngay lập tức và Ngài sẽ giúp họ nhận thức đúng đắn trở lại bằng sự thông toàn của Ngài.

• استدل بعض العلماء بقوله تعالى: ﴿ وَإِنَّ كَثِيرًا مِّنَ اْلْخُلَطَآءِ لَيَبْغِي بَعْضُهُمْ عَلَى بَعْضٍ ﴾ على مشروعية الشركة بين اثنين وأكثر.
* Một số học giả Islam đã trích dẫn lời phán của Đấng Tối Cao { Quả thật, nhiều ngươi hợp tác làm ăn hay chèn ép lẫn nhau...} làm bằng chứng giáo lý rằng Islam cho phép hùn hạp giữa hai đối tác hoặc nhiều hơn.

• ينبغي التزام الأدب في الدخول على أهل الفضل والمكانة.
* Cần phải lịch sự và có sự tôn trọng đối với những người có địa vị và đức cao khi vào gặp họ.


وَمَا خَلَقۡنَا ٱلسَّمَآءَ وَٱلۡأَرۡضَ وَمَا بَيۡنَهُمَا بَٰطِلٗاۚ ذَٰلِكَ ظَنُّ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْۚ فَوَيۡلٞ لِّلَّذِينَ كَفَرُواْ مِنَ ٱلنَّارِ
Và TA đã tạo ra bầu trời và trái đất không phải vô nghĩa. Đó chỉ là lối suy nghĩ của những kẻ vô đức tin. Bởi thế, thật khốn khổ cho những kẻ vô đức tin có suy nghĩ này bởi sự trừng phạt của Hỏa Ngục vào Ngày Phán Xét nếu như họ chết trên tình trạng vô đức tin và nghĩ xấu về Allah.
التفاسير العربية:
أَمۡ نَجۡعَلُ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَعَمِلُواْ ٱلصَّـٰلِحَٰتِ كَٱلۡمُفۡسِدِينَ فِي ٱلۡأَرۡضِ أَمۡ نَجۡعَلُ ٱلۡمُتَّقِينَ كَٱلۡفُجَّارِ
TA sẽ không bao giờ đối xử với những người có đức tin nơi Allah, luôn vâng lệnh Thiên Sứ của Ngài và cố gắng làm những việc làm thiện phước giống như đối xử với những kẻ thối nát ở trên trái đất bằng sự vô đưc tin và bất tuân của chúng. Và TA cũng không đối xử với những người thành tâm tin tưởng Thượng Đế của họ bằng việc chấp hành các mệnh lệnh của Ngài và cố gắng tránh xa những điều cấm của Ngài giống như những kẻ vô đức tin, những tên đạo đức giả đắm mình tong tội lỗi. Quả thật, sự đối xử ngang bằng giữa hai nhóm người này là điều bất công, không tồn tại ở nơi Allah, Đấng Toàn Năng. Ngược lại, Allah ban thưởng cho những người có đức tin ngoan đạo bằng việc họ được thu nhận vào Thiên Đàng và Ngài sẽ trừng phạt những kẻ vô đức tin bằng cách đày họ vào Hỏa Ngục; bởi vì, họ không ngang bằng nhau ở nơi Allah, và phần thưởng của họ không giống nhau.
التفاسير العربية:
كِتَٰبٌ أَنزَلۡنَٰهُ إِلَيۡكَ مُبَٰرَكٞ لِّيَدَّبَّرُوٓاْ ءَايَٰتِهِۦ وَلِيَتَذَكَّرَ أُوْلُواْ ٱلۡأَلۡبَٰبِ
Quả thật, Thiên Kinh Qur'an mà TA ban xuống cho Ngươi này đây là một Kinh Sách chứa đựng nhiều điều điều tốt đẹp và hữu ích, để nhân loại nghiền ngẫm về về lời lẽ của Nó và để họ thông hiểu về ý nghĩa của Nó và cũng để thức tỉnh những ai có một tâm trí lành mạnh và đúng đắn.
التفاسير العربية:
وَوَهَبۡنَا لِدَاوُۥدَ سُلَيۡمَٰنَۚ نِعۡمَ ٱلۡعَبۡدُ إِنَّهُۥٓ أَوَّابٌ
Và TA đã ban cho Dawood đứa con trai, Sulayman, một Ân Điển tốt đẹp cho niềm vui của Y. Và Sulayman là một bề tôi ưu hạng nhất của TA. Quả thật, Y luôn hằng quay về sám hối với TA và luôn phó thác hết mọi chuyện cho TA.
التفاسير العربية:
إِذۡ عُرِضَ عَلَيۡهِ بِٱلۡعَشِيِّ ٱلصَّـٰفِنَٰتُ ٱلۡجِيَادُ
Hãy nhớ lại khi vào một buổi xế chiều, có một số con chiến mã đặc chủng nhanh nhất được mang đến cho Sulayman, chúng đứng thành ba hàng và thêm hàng thứ tư. Những con chiến mã đặc chủng vẫn cứ được cống nạp cho đến khi mặt trời lặn khuất.
التفاسير العربية:
فَقَالَ إِنِّيٓ أَحۡبَبۡتُ حُبَّ ٱلۡخَيۡرِ عَن ذِكۡرِ رَبِّي حَتَّىٰ تَوَارَتۡ بِٱلۡحِجَابِ
Rồi Sulayman bảo:" Quả thật, Ta yêu thích tàn sản -trong đó có những con chiến mã tốt này - hơn việc Ta tưởng nhớ đến Thượng Đế của Ta mãi cho đến khi mặt trời mất dạng và Ta đã trễ nải cuộc lễ nguyện Salah Al-Asar."
التفاسير العربية:
رُدُّوهَا عَلَيَّۖ فَطَفِقَ مَسۡحَۢا بِٱلسُّوقِ وَٱلۡأَعۡنَاقِ
Sulayman bảo: "Hãy dẫn những con chiến mã đó lại đây cho TA". Thế rồi những con chiến mã đó được đem đến gần Y. Y lấy đao chặt vào chân và cổ của chúng.
التفاسير العربية:
وَلَقَدۡ فَتَنَّا سُلَيۡمَٰنَ وَأَلۡقَيۡنَا عَلَىٰ كُرۡسِيِّهِۦ جَسَدٗا ثُمَّ أَنَابَ
Và TA đã thử thách Sulayman bằng cách để cho một tên Jinn Shaytan chiếm lấy ngai vàng của Y. Tên Jinn đó đã hóa thân thành một con người cai trị vương quốc của Y trên ngai vàng đó một khoảng thời gian ngắn. Rồi sau đó, Sulayman quay về sám hối với TA thế nên TA đã khôi phục vương quyền cho Y từ lũ Shaytan kia.
التفاسير العربية:
قَالَ رَبِّ ٱغۡفِرۡ لِي وَهَبۡ لِي مُلۡكٗا لَّا يَنۢبَغِي لِأَحَدٖ مِّنۢ بَعۡدِيٓۖ إِنَّكَ أَنتَ ٱلۡوَهَّابُ
Sulayman thưa: "Lạy Thượng Đế của bề tôi! Xin Ngài hãy tha thứ cho việc làm tội lỗi của bề tôi và ban bố cho bề tôi một vương quyền đặc biệt cho bề tôi, vương quyền mà Ngài sẽ không ban bố cho một ai khác trong nhân loại sau bề tôi. Bởi vì Ngài là Thượng Đế - Đấng Hằng Ban Bố, Đấng Hào Phóng Vĩ Đại."
التفاسير العربية:
فَسَخَّرۡنَا لَهُ ٱلرِّيحَ تَجۡرِي بِأَمۡرِهِۦ رُخَآءً حَيۡثُ أَصَابَ
Bởi thế, TA đã đáp lại lời cầu xin của Y và TA đã khiến cho những cơn gió tuân theo mệnh lệnh của Y lướt theo tốc độ nhanh chậm đến nơi nào đó tùy ý của Y.
التفاسير العربية:
وَٱلشَّيَٰطِينَ كُلَّ بَنَّآءٖ وَغَوَّاصٖ
Và TA bắt đám Shaytan phục tùng theo mệnh lệnh của Y, chúng gồm: "Những tên thợ xây dựng và những thợ lặn, trong số những thợ lặn có là những thợ lặn sâu giữa lòng đại dương và những thợ lặn này đã lấy ngọc trai quý cho Y."
التفاسير العربية:
وَءَاخَرِينَ مُقَرَّنِينَ فِي ٱلۡأَصۡفَادِ
Và một số khác trong đám Shaytan bị xiềng xích lại, chúng bị xiềng xích lại không thể cử động.
التفاسير العربية:
هَٰذَا عَطَآؤُنَا فَٱمۡنُنۡ أَوۡ أَمۡسِكۡ بِغَيۡرِ حِسَابٖ
Này hỡi Sulayman: "Đây là món quà TA đã đáp lại với những gì mà Ngươi cầu xin TA. Bởi thế, Ngươi được quyền phân phát hay giữ lại tùy ý Ngươi không sẽ bị tính sổ và hạch hỏi trong chuyện phân phát hay giữ lại."
التفاسير العربية:
وَإِنَّ لَهُۥ عِندَنَا لَزُلۡفَىٰ وَحُسۡنَ مَـَٔابٖ
Và quả thật, Sulayman là một trong những người cận kề ở nơi TA và ở nơi TA y có một nơi trở về tốt đẹp nhất, đó chính là Thiên Đàng.
التفاسير العربية:
وَٱذۡكُرۡ عَبۡدَنَآ أَيُّوبَ إِذۡ نَادَىٰ رَبَّهُۥٓ أَنِّي مَسَّنِيَ ٱلشَّيۡطَٰنُ بِنُصۡبٖ وَعَذَابٍ
Và hãy nhớ lại - hỡi Thiên Sứ - có một bề tôi của TA tên là Ayyub, Y đã cầu xin Allah, Thượng Đế của Y rằng: "Quả thật, bề tôi đã bị lũ Shaytan quấy nhiễu đủ điều làm cho bề tôi mệt mỏi đau đớn về thể xác lẫn tinh thần."
التفاسير العربية:
ٱرۡكُضۡ بِرِجۡلِكَۖ هَٰذَا مُغۡتَسَلُۢ بَارِدٞ وَشَرَابٞ
Và TA (Allah) phán bảo Y: "Ngươi hãy dùng chân của Ngươi giẫm lên mặt đất, Y lấy liền lấy chân giẫm mạnh lên mặt đất, thế là từ đó phún lên những mạch nước, Y lấy nước đó dùng để uống và tắm rữa. Bởi thế, những giọt nước đó đã tẩy sạch sẽ cho Y hết cơn bạo bệnh."
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• الحث على تدبر القرآن.
* Kêu gọi suy ngẫm Thiên Kinh Qur'an.

• في الآيات دليل على أنه بحسب سلامة القلب وفطنة الإنسان يحصل له التذكر والانتفاع بالقرآن الكريم.
* Trong các câu Kinh có chứng minh cho thấy những ai có tâm trí lành mạnh thì Thiên Kinh Qur'an sẽ mang lại điều hữu ích cho họ và giúp họ giác ngộ điều chân lý.

• في الآيات دليل على صحة القاعدة المشهورة: «من ترك شيئًا لله عوَّضه الله خيرًا منه».
* Trong các câu Kinh chứa đựng một nguyên tắc hầu như ai cũng biết đối với những người Muslim có đức tin: "Ai bỏ đi một điều nào đó vì Allah thì Allah sẽ ban bố lại cho Y điều tốt hơn thứ đã bỏ đi."


وَوَهَبۡنَا لَهُۥٓ أَهۡلَهُۥ وَمِثۡلَهُم مَّعَهُمۡ رَحۡمَةٗ مِّنَّا وَذِكۡرَىٰ لِأُوْلِي ٱلۡأَلۡبَٰبِ
Và TA đã đáp lại lời thỉnh cầu của Y, do đó TA chữa hết căn bệnh hiểm nghèo cho Y, TA ban cho gia đình Y được đoàn tụ sum vầy và TA ban thêm cho Y con cháu nhiều hơn nữa, một hồng ân của TA dành cho Y. Phần thưởng mà Y nhận được là do sự kiên nhẫn chịu đựng của Y và hình ảnh của Y chính là điều để TA nhắc nhở cho những ai có được đầu óc thông suốt biết kiên nhẫn chịu đựng và chắc sẽ nhận được một phần thưởng to lớn.
التفاسير العربية:
وَخُذۡ بِيَدِكَ ضِغۡثٗا فَٱضۡرِب بِّهِۦ وَلَا تَحۡنَثۡۗ إِنَّا وَجَدۡنَٰهُ صَابِرٗاۚ نِّعۡمَ ٱلۡعَبۡدُ إِنَّهُۥٓ أَوَّابٞ
Khi Ayyub nổi giận với vợ của Y, Y đã thốt lên lời thề với TA rằng Y sẽ đánh vợ của Y một trăm roi. TA phán bảo Y: "Ngươi - hỡi Ayyub - hãy cầm lấy trong tay của mình một bó lá cây, dùng nó để đánh nữ ta bởi lời thề Ngươi đã thốt và chớ phạm lời thề." Quả thật, TA thấy Y - Ayyyub - là một người rất kiên nhẫn chịu đựng trên sự thử thách của TA dành cho Y, Y quả là một bề tôi ưu việt nhất bởi vì Y luôn hằng quay đầu sám hối với Allah.
التفاسير العربية:
وَٱذۡكُرۡ عِبَٰدَنَآ إِبۡرَٰهِيمَ وَإِسۡحَٰقَ وَيَعۡقُوبَ أُوْلِي ٱلۡأَيۡدِي وَٱلۡأَبۡصَٰرِ
Và Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy nhớ lại đám bầy tôi của TA, những người mà TA đã tuyển chọn làm những vị Thiên Sứ của TA như: Ibrahim, Is-haaq và Ya'qub. Quả thật, họ là những người có ý trí kiên cường trong việc tuân phục Allah, họ là những người luôn làm cho Ngài hài lòng về họ và họ luôn có một cái nhìn sâu sắc thấu đáo về điều Chân Lý.
التفاسير العربية:
إِنَّآ أَخۡلَصۡنَٰهُم بِخَالِصَةٖ ذِكۡرَى ٱلدَّارِ
Quả thật, TA đã chọn lấy họ vì tấm lòng của họ luôn hướng tới ngôi nhà ở Ngày Sau (Thiên Đàng). Họ luôn chuẩn bị cho ngôi nhà đó bằng cách làm những điều thiện phước và kêu gọi mọi người cùng nhau làm việc thiện.
التفاسير العربية:
وَإِنَّهُمۡ عِندَنَا لَمِنَ ٱلۡمُصۡطَفَيۡنَ ٱلۡأَخۡيَارِ
Và quả thật, đối với TA họ chắc chắn là những người ưu tú trong việc phục tùng TA và là đám bầy tôi trung thành của TA được TA lựa chọn để gánh vác sứ mạng cho TA và đi truyền bá bức thông điệp của TA đến nhân loại.
التفاسير العربية:
وَٱذۡكُرۡ إِسۡمَٰعِيلَ وَٱلۡيَسَعَ وَذَا ٱلۡكِفۡلِۖ وَكُلّٞ مِّنَ ٱلۡأَخۡيَارِ
Và hãy nhớ lại - hỡi Thiên Sứ - Isma'il con trai của Ibrahim, Al-Yasa' (Elisha) và Zdul-kifl, họ là những người đáng được khen ngợi. Bởi vì tất cả họ là những người ưu tú được Ngài lựa chọn.
التفاسير العربية:
هَٰذَا ذِكۡرٞۚ وَإِنَّ لِلۡمُتَّقِينَ لَحُسۡنَ مَـَٔابٖ
Thiên Kinh Qur'an là lời nhắc nhở tốt nhất dành cho họ. Và quả thật, những người có tấm lòng kính sợ bằng sự phục tùng mệnh lệnh của Allah và tránh xa những gì mà Ngài nghiêm cấm chắc chắn sẽ được trở về ngôi nhà thật tốt đẹp ở Ngày Sau (Thiên Đàng).
التفاسير العربية:
جَنَّـٰتِ عَدۡنٖ مُّفَتَّحَةٗ لَّهُمُ ٱلۡأَبۡوَٰبُ
Họ sẽ được trở về nơi tốt nhất, đấy chính là những Ngôi Vườn Thiên Đàng mà họ sẽ định cư đời đời ở trong đó vào ngày Phán Xét và những cánh cửa của Thiên Đàng đã được mở toan ra chào đón họ.
التفاسير العربية:
مُتَّكِـِٔينَ فِيهَا يَدۡعُونَ فِيهَا بِفَٰكِهَةٖ كَثِيرَةٖ وَشَرَابٖ
Trong đó, họ sẽ tựa mình trên những chiếc tràng kỷ sang trọng và lộng lẫy, họ sẽ yêu cầu những người hầu mang đến cho mình bất cứ thức ăn, thức uống nào họ ưa thích từ đủ loại trái cây khác nhau đến những loại nước giải khát như rượu và các thức uống khác.
التفاسير العربية:
۞وَعِندَهُمۡ قَٰصِرَٰتُ ٱلطَّرۡفِ أَتۡرَابٌ
Bên cạnh họ sẽ là những nàng trinh nữ với đôi mắt to trữ tình tuyệt đẹp, chỉ thích ngắm nhìn chồng của họ và không bao giờ nhìn người đàn ông khác. Và các nàng trinh nữ này đồng trang lứa với họ.
التفاسير العربية:
هَٰذَا مَا تُوعَدُونَ لِيَوۡمِ ٱلۡحِسَابِ
Và đây là những gì mà các ngươi - hỡi những người thành tâm kính sợ Allah - đã được hứa hẹn về phần thưởng tốt đẹp vào ngày Phán Xét bởi các việc làm thiện tốt của các ngươi ở trần gian.
التفاسير العربية:
إِنَّ هَٰذَا لَرِزۡقُنَا مَا لَهُۥ مِن نَّفَادٍ
Quả thật, những gì mà TA đã đề cập về phần thưởng dành cho những người ngoan đạo vào ngày Phán Xét là những bổng lộc vô tận.
التفاسير العربية:
هَٰذَاۚ وَإِنَّ لِلطَّـٰغِينَ لَشَرَّ مَـَٔابٖ
Đây là những phần thưởng dành cho những người ngoan đạo. Riêng những kẻ vượt quá mức giới hạn của Allah bởi việc vô đức tin và tội lỗi thì phần thưởng của chúng sẽ trái ngược với phần thưởng của những người biết kính sợ Allah. Bởi thế, họ sẽ có một nơi rất tồi tệ để trở về.
التفاسير العربية:
جَهَنَّمَ يَصۡلَوۡنَهَا فَبِئۡسَ ٱلۡمِهَادُ
Phần thưởng của chúng sẽ là Hỏa Ngục, nó sẽ bao trùm lấy chúng, chúng sẽ phải hứng chịu cái nóng thiêu đốt của nó, chúng sẽ nằm trong đó. Và đó là nơi ở thật tồi tệ.
التفاسير العربية:
هَٰذَا فَلۡيَذُوقُوهُ حَمِيمٞ وَغَسَّاقٞ
Sự trừng phạt này là một loại nước cực sôi, một loại mủ (máu) hôi tanh được tiết ra từ da thịt tổn thương của cư dân Hỏa Ngục. Chúng uống loại nước sôi và các chất mủ này, đó là thức uống giải khát của chúng nhưng nó không giải được cơn khát của chúng.
التفاسير العربية:
وَءَاخَرُ مِن شَكۡلِهِۦٓ أَزۡوَٰجٌ
Và họ còn phải gánh chịu thêm các loại hình phạt tương tự khác nữa. Họ sẽ phải gánh chịu các loại trừng phạt khác nhau vào Đời Sau.
التفاسير العربية:
هَٰذَا فَوۡجٞ مُّقۡتَحِمٞ مَّعَكُمۡ لَا مَرۡحَبَۢا بِهِمۡۚ إِنَّهُمۡ صَالُواْ ٱلنَّارِ
Và khi cư dân của Hỏa Ngục vào Hỏa Ngục, giữa họ xảy ra sự trách mắng lẫn nhau, người này không muốn liên can người kia, người kia đổ lỗi cho người này. Bởi thế, một số họ lên tiếng bảo: "Đây là nhóm cư dân Hỏa Ngục vào Hỏa Ngục cùng với các ngươi." Một nhóm khác đáp lại: "Chúng tôi chẳng hề hoan nghênh họ, vì thật ra họ cũng bị đày vào Hỏa Ngục giống như chúng tôi thôi."
التفاسير العربية:
قَالُواْ بَلۡ أَنتُمۡ لَا مَرۡحَبَۢا بِكُمۡۖ أَنتُمۡ قَدَّمۡتُمُوهُ لَنَاۖ فَبِئۡسَ ٱلۡقَرَارُ
Đám thuộc hạ đã làm theo những tên lãnh đạo nói với những kẻ chúng đi theo: "Không, các người - hỡi các nhà lãnh đạo - chúng tôi cũng không hề hoan nghênh các người. Bởi vì các người là những người khiến chúng tôi phải gánh chịu sự trừng phạt đau đớn bởi sự lạc lối mà các người đã lôi kéo chúng tôi. Bởi thế, đây chính là chỗ cư ngụ tồi tệ mà tất cả chúng ta đều phải gánh chịu."
التفاسير العربية:
قَالُواْ رَبَّنَا مَن قَدَّمَ لَنَا هَٰذَا فَزِدۡهُ عَذَابٗا ضِعۡفٗا فِي ٱلنَّارِ
Những tên đi theo thưa: "Lạy Thượng Đế của bầy tôi! Những ai đã từng dẫn dắt bầy tôi đi lạc lối để rồi nhận lấy sự trừng phạt thế này đây thì cầu xin Ngài hãy tăng ngọn lửa gấp đôi lên trừng phạt chúng."
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• من صبر على الضر فالله تعالى يثيبه ثوابًا عاجلًا وآجلًا، ويستجيب دعاءه إذا دعاه.
* Những ai kiên nhẫn chịu đựng trước thử thách của Allah, Đấng Toàn Tối Cao thì chắc chắn sẽ được Ngài ban thưởng một phần thưởng xứng đáng trên cõi trần lẫn cõi Đời Sau và luôn được Ngài đáp lại lời cầu xin mỗi khi họ cầu xin Ngài.

• في الآيات دليل على أن للزوج أن يضرب امرأته تأديبًا ضربًا غير مبرح؛ فأيوب عليه السلام حلف على ضرب امرأته ففعل.
* Trong các câu Kinh có bằng chứng cho thấy rằng người chồng được phép đánh vợ khi vợ sai nhưng không được gây thương tích. Bởi vì, Nabi Ayyub - cầu xin bình an cho Người - đã thốt ra lời thề phải đánh vợ bằng roi nhưng Allah đã bảo Người dùng bó cỏ thay cho roi.


وَقَالُواْ مَا لَنَا لَا نَرَىٰ رِجَالٗا كُنَّا نَعُدُّهُم مِّنَ ٱلۡأَشۡرَارِ
Và những tên kiêu ngạo bảo: "Chuyện gì xảy ra với chúng tôi vậy? Tại sao, chúng tôi không nhìn thấy ở cùng với chúng tôi trong Hỏa Ngục những người đàn ông mà chúng tôi đã liệt kê họ vào danh sách khi còn ở trần gian rằng chắc chắn họ đáng phải gánh chịu sự trừng phạt?"
التفاسير العربية:
أَتَّخَذۡنَٰهُمۡ سِخۡرِيًّا أَمۡ زَاغَتۡ عَنۡهُمُ ٱلۡأَبۡصَٰرُ
Phải chăng, sự kiêu ngạo và khinh thường của chúng tôi đối với họ là đã sai. Bởi vì, số phận của họ không đáng bị trừng phạt hoặc do họ đã nằm sẵn trong Hỏa Ngục rồi, thế nên đã làm chúng tôi không nhìn thấy được họ?
التفاسير العربية:
إِنَّ ذَٰلِكَ لَحَقّٞ تَخَاصُمُ أَهۡلِ ٱلنَّارِ
Quả thật, sự việc TA đã đề cập về sự tranh cãi và trách mắng nhau giữa như kẻ vo đức tin vào Ngài Phán Xét là sự thật, không có gì phải nghi ngờ cả.
التفاسير العربية:
قُلۡ إِنَّمَآ أَنَا۠ مُنذِرٞۖ وَمَا مِنۡ إِلَٰهٍ إِلَّا ٱللَّهُ ٱلۡوَٰحِدُ ٱلۡقَهَّارُ
Ngươi- hỡi Muhammad - hãy nói với những kẻ vô đức tin trong dân chúng của Ngươi: "Quả thật, Ta chỉ là một người cảnh báo cho các người về hình phạt mà Allah sẽ trừng trị các người về sự vô đức tin của các người nơi Ngài và sự phủ nhận của các người đối với Thiên Sứ của Ngài. Và đích thực không có Thượng Đế nào xứng đáng được thờ phượng mà chỉ một mình Allah, Đấng duy nhất trong sự tối cao, vĩ đại và các thuộc tính cũng như danh xưng của Ngài, Ngài là Đấng Toàn Năng chi phối tất cả mọi thư. Tất cả vạn vật đều phục tùng Ngài."
التفاسير العربية:
رَبُّ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِ وَمَا بَيۡنَهُمَا ٱلۡعَزِيزُ ٱلۡغَفَّـٰرُ
Ngài (Allah) là Thượng Đế của các tầng trời, trái đất và tất cả vạn vật giữa trời đất. Ngài là Đấng Đầy Quyền Lực cai quản hết tất cả mọi vật, không ai có thể vượt qua quyền năng của Ngài nhưng Ngài cũng là Đấng Hằng Tha Thứ mọi tội lỗi của đám bầy tôi biết ăn năn sám hối với Ngài.
التفاسير العربية:
قُلۡ هُوَ نَبَؤٌاْ عَظِيمٌ
Ngươi - hỡi Muhammad - hãy nói với những kẻ phủ nhận đức tin: "Quả thật, Thiên Kinh Qur'an là một nguồn tin vô cùng vĩ đại."
التفاسير العربية:
أَنتُمۡ عَنۡهُ مُعۡرِضُونَ
"Các ngươi phản đối nguồn tin vĩ đại này và các ngươi quay mặt với Nó."
التفاسير العربية:
مَا كَانَ لِيَ مِنۡ عِلۡمِۭ بِٱلۡمَلَإِ ٱلۡأَعۡلَىٰٓ إِذۡ يَخۡتَصِمُونَ
"Ta không hề hay biết vấn đề gì đã diễn ra giữa các vị Thiên Thần về sự tạo hóa của Adam nếu như Allah không Mặc Khải xuống cho Ta và dạy Ta."
التفاسير العربية:
إِن يُوحَىٰٓ إِلَيَّ إِلَّآ أَنَّمَآ أَنَا۠ نَذِيرٞ مُّبِينٌ
"Quả thật, Allah chỉ mặc khải xuống cho Ta trong đó cho Ta biết rằng Ta là một người cảnh báo các ngươi về hình phạt của Ngài một cách rõ ràng, minh bạch."
التفاسير العربية:
إِذۡ قَالَ رَبُّكَ لِلۡمَلَـٰٓئِكَةِ إِنِّي خَٰلِقُۢ بَشَرٗا مِّن طِينٖ
Hãy nhớ lại khi Thượng Đế của Ngươi phán bảo với các vị Thiên Thần rằng: "Quả thật, TA sắp tạo hóa ra một người phàm tục từ đất sét" và đó chính là Adam - cầu xin bình an cho Người."
التفاسير العربية:
فَإِذَا سَوَّيۡتُهُۥ وَنَفَخۡتُ فِيهِ مِن رُّوحِي فَقَعُواْ لَهُۥ سَٰجِدِينَ
Bởi thế, khi TA uốn nắn Y (Adam) thành một hình thể con người hoàn chỉnh và sau đó TA thổi vào Y một linh hồn (sự sống). Rồi TA ra lệnh tất cả phải quỳ xuống cuối đầu lạy Y.
التفاسير العربية:
فَسَجَدَ ٱلۡمَلَـٰٓئِكَةُ كُلُّهُمۡ أَجۡمَعُونَ
Thế là, các Thiên Thần tuân theo mệnh lệnh của Thượng Đế họ, tất cả họ đều cuối đầu quỳ lại sự tạo hóa cao quí của Ngài, không một ai trong họ dám không quỳ.
التفاسير العربية:
إِلَّآ إِبۡلِيسَ ٱسۡتَكۡبَرَ وَكَانَ مِنَ ٱلۡكَٰفِرِينَ
Chỉ một mình Iblis, hắn đã kiêu ngạo không chịu quỳ và chính vì sự kiêu ngạo đó của hắn đã khiến hắn trở thành một tên phản nghịch lại lệnh của của Allah.
التفاسير العربية:
قَالَ يَـٰٓإِبۡلِيسُ مَا مَنَعَكَ أَن تَسۡجُدَ لِمَا خَلَقۡتُ بِيَدَيَّۖ أَسۡتَكۡبَرۡتَ أَمۡ كُنتَ مِنَ ٱلۡعَالِينَ
Allah phán bảo: "Này Iblis! Điều gì đã ngăn cản nhà ngươi quì lạy Adam, một thứ do chính tay của TA đã tạo ra? Há có phải do sự kiêu ngạo đã ngăn cản nhà ngươi quỳ lạy hoặc do nhà ngươi quá tự phụ cho rằng mình cao hơn cả Thượng Đế của ngươi chăng?"
التفاسير العربية:
قَالَ أَنَا۠ خَيۡرٞ مِّنۡهُ خَلَقۡتَنِي مِن نَّارٖ وَخَلَقۡتَهُۥ مِن طِينٖ
Iblis thưa: "Bề tôi tốt đẹp hơn Adam. Bởi vì, Ngài tạo hóa bề tôi từ lửa trong khi Ngài tạo hóa Adam từ đất sét." Iblis tưởng rằng lửa sẽ cao quí và tốt hơn hơn đất sét.
التفاسير العربية:
قَالَ فَٱخۡرُجۡ مِنۡهَا فَإِنَّكَ رَجِيمٞ
Allah phán với Iblis: "Ngươi hãy cút khỏi Thiên Đàng. Bởi quả thật, ngươi là một tên đã bị nguyền rủa".
التفاسير العربية:
وَإِنَّ عَلَيۡكَ لَعۡنَتِيٓ إِلَىٰ يَوۡمِ ٱلدِّينِ
Và quả thật, nhà ngươi là một kẻ bị trục xuất ra khỏi Thiên Đàng cho đến ngày Thưởng Phạt Phân Minh, đó chính là ngày Phán Xét.
التفاسير العربية:
قَالَ رَبِّ فَأَنظِرۡنِيٓ إِلَىٰ يَوۡمِ يُبۡعَثُونَ
Iblis thưa: "Xin Ngài tạm tha cho bề tôi và không xóa sổ bề tôi đến một ngày mà tất cả đám bề tôi của Ngài sẽ được dựng sống lại."
التفاسير العربية:
قَالَ فَإِنَّكَ مِنَ ٱلۡمُنظَرِينَ
Allah phán: " Được, TA sẽ tạm hoãn thời hạn đó cho ngươi."
التفاسير العربية:
إِلَىٰ يَوۡمِ ٱلۡوَقۡتِ ٱلۡمَعۡلُومِ
Cho đến Ngày mà thời khắc đã được ấn định cho việc nhà ngươi sẽ bị tiêu diệt.
التفاسير العربية:
قَالَ فَبِعِزَّتِكَ لَأُغۡوِيَنَّهُمۡ أَجۡمَعِينَ
Iblis thưa: "Bề tôi thề bởi Quyền Năng và Sức Mạnh của Ngài rằng bề tôi sẽ lôi kéo tất cả đám con cháu của Adam đi vào con đường lầm lạc."
التفاسير العربية:
إِلَّا عِبَادَكَ مِنۡهُمُ ٱلۡمُخۡلَصِينَ
Ngoại trừ những ai mà Ngài đã bảo vệ khỏi sự lầm lạc và những ai mà họ thực sự thành tâm và kiên định trong thờ phượng duy nhất một mình Ngài.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• القياس والاجتهاد مع وجود النص الواضح مسلك باطل.
* Qiyas (so sánh và suy luận) và Ijtihad (nỗ lực nghiên cứu để rút ra điều luật) trong khi đã có văn bản giáo lý rõ ràng là phương pháp sai không được giáo lý công nhận.

• كفر إبليس كفر عناد وتكبر.
* Sự bất tuân của Iblis là do tính ngạo mạn và kiêu căng.

• من أخلصهم الله لعبادته من الخلق لا سبيل للشيطان عليهم.
* Những ai thành tâm thờ phượng một mình Allah duy nhất thì Shaytan sẽ không có đường để cám dỗ hay lôi kéo được họ.


قَالَ فَٱلۡحَقُّ وَٱلۡحَقَّ أَقُولُ
Allah, Đấng Tôi Cao phán: "Chân Lý luôn nằm ở nơi TA, và TA luôn nói điều chân lý, TA không nói bất cứ điều gì ngoài chân lý cả."
التفاسير العربية:
لَأَمۡلَأَنَّ جَهَنَّمَ مِنكَ وَمِمَّن تَبِعَكَ مِنۡهُمۡ أَجۡمَعِينَ
"Chắc chắn rằng vào ngày Phán Xét, Hỏa Ngục là nơi giam giữ nhà ngươi và những ai trong đám con cháu của Adam đi theo ngươi trong sự vô đức tin."
التفاسير العربية:
قُلۡ مَآ أَسۡـَٔلُكُمۡ عَلَيۡهِ مِنۡ أَجۡرٖ وَمَآ أَنَا۠ مِنَ ٱلۡمُتَكَلِّفِينَ
Ngươi - hỡi Thiên Sứ - hãy nói với những kẻ đa thần này: "Ta không hề đòi hỏi các ngươi bất cứ thù lao gì sau khi Ta đã hoàn thành xong lời khuyên can của Ta với các ngươi và Ta cũng không phải là một tên bịa đặt nói ra những điều không có hoặc thêm bớt vào những sắc lệnh của Allah."
التفاسير العربية:
إِنۡ هُوَ إِلَّا ذِكۡرٞ لِّلۡعَٰلَمِينَ
Không, Thiên Kinh Qur'an chỉ là lời nhắc nhở cảnh tỉnh cho những ai biết kính sợ Allah từ loài người và loài Jinn.
التفاسير العربية:
وَلَتَعۡلَمُنَّ نَبَأَهُۥ بَعۡدَ حِينِۭ
"Và chắc chắn, các ngươi sẽ biết rõ thông tin trong Thiên Kinh Qur'an này. Quả thật, giây phút đó là điều hiển nhiên, nó sẽ sớm xảy ra sau cái chết của các ngươi."
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• الداعي إلى الله يحتسب الأجر من عنده، لا يريد من الناس أجرًا على ما يدعوهم إليه من الحق.
* Ngườ kêu gọi đến với Allah đích thực là người hy vọng phần thường từ Ngài, chớ không muốn bất cứ phần công lạo nào từ nhân loại.

• التكلّف ليس من الدِّين.
* Bịa đặt và nói dối cho Allah không phải là tín ngưỡng.

• التوسل إلى الله يكون بأسمائه وصفاته وبالإيمان وبالعمل الصالح لا غير.
* Phương tiện làm chiếc cầu nối để đến gần với Allah là các danh xưng, thuộc tính của Ngài, đức tin Iman và những việc làm ngoan đạo, chứ không là những thứ gì khác.


 
ترجمة معاني سورة: ص
فهرس السور رقم الصفحة
 
ترجمة معاني القرآن الكريم - الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم - فهرس التراجم

الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم، صادر عن مركز تفسير للدراسات القرآنية.

إغلاق