ترجمة معاني القرآن الكريم - الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم * - فهرس التراجم


ترجمة معاني سورة: يس
آية:
 

سورة يس - Chương Yasin

من مقاصد السورة:
إثبات الرسالة والبعث ودلائلهما.
Những bằng chứng xác thực về sứ mệnh và sự phục sinh trở lại.

يسٓ
(Ya sin) Đã được giải thích ở câu đầu tiên của chương Al-Baqarah.
التفاسير العربية:
وَٱلۡقُرۡءَانِ ٱلۡحَكِيمِ
Allah thề bởi Qur'an một quyển Thiên Kinh danh giá trên từng câu của Nó, trong Nó không hề có bất cứ sai xót nào dù ở khía cạnh nào.
التفاسير العربية:
إِنَّكَ لَمِنَ ٱلۡمُرۡسَلِينَ
Quả thật, Ngươi - hỡi Thiên Sứ - đích thực là một trong những Thiên Sứ mà Allah đã cứ phái Ngươi đến với đám bầy tôi của Ngài; để ra lệnh họ phải đặt niềm tin vào Ngài duy nhất và thờ phượng riêng.
التفاسير العربية:
عَلَىٰ صِرَٰطٖ مُّسۡتَقِيمٖ
Trên một con đường ngay chính và chân thật.
التفاسير العربية:
تَنزِيلَ ٱلۡعَزِيزِ ٱلرَّحِيمِ
Và đó là con đường được truyền xuống từ Thượng Đế của Ngươi Đấng Đầy Quyền Lực mà không một ai có thể chế ngự được Ngài, Đấng Rất Mực Khoan Dung cho đám bề tôi có đức tin của Ngài.
التفاسير العربية:
لِتُنذِرَ قَوۡمٗا مَّآ أُنذِرَ ءَابَآؤُهُمۡ فَهُمۡ غَٰفِلُونَ
TA ban xuống cho Ngươi dùng để cảnh tỉnh đến một dân tộc và cũng là điều cảnh báo đối với họ, họ là những người dân Ả rập mà trước đây tổ tiên của họ chưa từng có Thiên Sứ nào đến để cảnh báo. Bởi thế, họ không hề hay biết gì về đức tin và Tawhid (sự tôn thờ Allah duy nhất), do đó khi thời đại của họ nhận được lời cảnh báo đã làm cho họ xem nhẹ cho những điều thiết thực của lời cảnh tỉnh của Thiên Sứ.
التفاسير العربية:
لَقَدۡ حَقَّ ٱلۡقَوۡلُ عَلَىٰٓ أَكۡثَرِهِمۡ فَهُمۡ لَا يُؤۡمِنُونَ
Chắc chắn, Allah sẽ trừng phạt đa số bọn họ là một điều quá hiển nhiên, nó sẽ diễn ra sau khi đã được hoàn chỉnh mọi chân lý của Allah từ chính chiếc lưỡi của Thiên Sứ của Ngài đến với họ, rõ ràng như thế mà họ còn chưa chịu tin ở nơi Ngài và tiếp tục ở trên hiện trạng vô đức tin. Bởi vì, họ là những người không tin tưởng nơi Allah và Thiên Sứ của Ngài và cũng không chịu làm theo chân lý được đến với họ.
التفاسير العربية:
إِنَّا جَعَلۡنَا فِيٓ أَعۡنَٰقِهِمۡ أَغۡلَٰلٗا فَهِيَ إِلَى ٱلۡأَذۡقَانِ فَهُم مُّقۡمَحُونَ
Và họ giống như đang bị đóng những chiếc gông cùm ở cổ và Ngài đã gom những đôi tay với cần cổ của họ lại với nhau. Bởi thế, bọn họ trong tư thế bị ngẩng cao đầu lên trời xanh, không thể hạ thấp xuống được chút nào. Bởi vì họ là những kẻ bị gạt bỏ ra khỏi đức tin của Allah, họ là những kẻ đã khước từ Ngài thế nên họ không thể hạ đầu xuống trong lúc bị Ngài phạt.
التفاسير العربية:
وَجَعَلۡنَا مِنۢ بَيۡنِ أَيۡدِيهِمۡ سَدّٗا وَمِنۡ خَلۡفِهِمۡ سَدّٗا فَأَغۡشَيۡنَٰهُمۡ فَهُمۡ لَا يُبۡصِرُونَ
Và TA đã dùng một bức tường làm tấm rào cản trước mặt và phía sau lưng chúng đối với việc tiếp cận chân lý, thế nên TA khiến chúng chẳng nhìn thấy được gì có lợi. Bởi thế, điều đó sẽ xảy ra với những kẻ sau khi thể hiện mình là những kẻ ngang tàn và bướng bỉnh xuất phát từ sự phủ nhận Allah.
التفاسير العربية:
وَسَوَآءٌ عَلَيۡهِمۡ ءَأَنذَرۡتَهُمۡ أَمۡ لَمۡ تُنذِرۡهُمۡ لَا يُؤۡمِنُونَ
Quả thật, những kẻ phủ nhận đức tin và còn luôn tỏ vẻ ngông cuồng tự đại thì cho dù Ngươi - hỡi Muhammad - có răn đe họ hoặc bỏ mặc chúng đi chăng nữa thì điều đó cũng chỉ là dư thừa. Bởi vì, chúng là những kẻ không tin tưởng về những gì được Ngươi mang đến từ Allah.
التفاسير العربية:
إِنَّمَا تُنذِرُ مَنِ ٱتَّبَعَ ٱلذِّكۡرَ وَخَشِيَ ٱلرَّحۡمَٰنَ بِٱلۡغَيۡبِۖ فَبَشِّرۡهُ بِمَغۡفِرَةٖ وَأَجۡرٖ كَرِيمٍ
Quả thật, lời cảnh báo của Ngươi có giá trị đối với những người nào tin tưởng nơi Qur'an và tuân theo những gì được mang lại từ Nó, những người luôn biết kính sợ Thượng Đế của y lúc ở một mình nghĩa là ở nơi không ai nhìn thấy y. Bởi thế, hãy loan tin mừng cho những ai có được phẩm chất tốt đẹp đó được Allah sẽ xóa hết mọi tội lỗi của y và được Ngài tha thứ, không những thế Ngài còn ban cho một phần thưởng thật là hậu hĩ đang chờ đợi y ở Đời Sau đó chính là được bước vào Thiên Đàng.
التفاسير العربية:
إِنَّا نَحۡنُ نُحۡيِ ٱلۡمَوۡتَىٰ وَنَكۡتُبُ مَا قَدَّمُواْ وَءَاثَٰرَهُمۡۚ وَكُلَّ شَيۡءٍ أَحۡصَيۡنَٰهُ فِيٓ إِمَامٖ مُّبِينٖ
Chắc chắn TA sẽ làm cho người chết sống lại bằng việc phục sinh vào Ngày Tận Thế để phân xử họ. TA đã ghi chép lại hết mọi điều mà họ đã từng làm trong cuộc sống ở trần gian này dù tốt hay xấu, và TA vẫn không bỏ sót những việc làm mà họ để lại hậu thế sau khi chết như những loại tài sản bố thí còn lưu truyền hoặc sự vô đức tin của y hãy vẫn còn tồn tại. Tất cả đều được TA cho ghi chép lại thật chi tiết trong Quyển Sổ Mẹ.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• العناد مانع من الهداية إلى الحق.
* Tính ngang tàn bướng bỉnh là tấm rào ngăn cản không cho đến được sự chỉ đạo của chân lý.

• العمل بالقرآن وخشية الله من أسباب دخول الجنة.
* Làm theo sự chỉ đạo của Qur'an và luôn kính sợ Allah là nguyên nhân được vào Thiên Đàng.

• فضل الولد الصالح والصدقة الجارية وما شابههما على العبد المؤمن.
* Giá trị của đứa con ngoan đạo, sự bố thí Jariyah - tài sản từ thiện sau khi chết - và những điều tương tự rất có lợi cho một bề tôi có đức tin.


وَٱضۡرِبۡ لَهُم مَّثَلًا أَصۡحَٰبَ ٱلۡقَرۡيَةِ إِذۡ جَآءَهَا ٱلۡمُرۡسَلُونَ
Ngươi hãy trình bày - hỡi Thiên Sứ - cho những tên ngông cuồng ngạo mạng về một bài học qua một câu chuyện: "Đó là câu chuyện kể về dân cư của một thị trấn khi có những vị Thiên Sứ được cử phái đến gặp họ."
التفاسير العربية:
إِذۡ أَرۡسَلۡنَآ إِلَيۡهِمُ ٱثۡنَيۡنِ فَكَذَّبُوهُمَا فَعَزَّزۡنَا بِثَالِثٖ فَقَالُوٓاْ إِنَّآ إِلَيۡكُم مُّرۡسَلُونَ
Khi TA cử phái lần đầu xuống gặp họ là hai vị Thiên Sứ để kêu gọi họ đến với Tawhid tôn thờ duy nhất Allah và thờ phượng riêng Ngài. Thế nhưng, chúng lại cho là hai vị Thiên Sứ đều nói dối, thế nên TA cử thêm một vị Thiên Sứ thứ ba xuống gặp chúng và cả ba cùng đồng thanh kêu gọi dân chúng ở một thị trấn rằng: "Quả thật, chúng tôi là ba vị Thiên Sứ - được cử phái đến gặp các ngươi; để kêu gọi các ngươi đến với Tawhid tôn thờ duy nhất Allah và làm theo chỉ đạo của Ngài."
التفاسير العربية:
قَالُواْ مَآ أَنتُمۡ إِلَّا بَشَرٞ مِّثۡلُنَا وَمَآ أَنزَلَ ٱلرَّحۡمَٰنُ مِن شَيۡءٍ إِنۡ أَنتُمۡ إِلَّا تَكۡذِبُونَ
Đám dân của thị trấn đáp lại các vị Thiên Sứ rằng: "Các ông chẳng qua chỉ là những người phàm giống như chúng tôi, các người có gì trội hơn chúng tôi đâu nào. Và rồi Đấng Al-Rahman đã không mặc khải xuống cho các ông cả. Rõ ràng, các ông chỉ là những người nói dốc rồi đổ thừa cho Allah trong việc mấy ông kêu gọi chúng tôi thế này đây."
التفاسير العربية:
قَالُواْ رَبُّنَا يَعۡلَمُ إِنَّآ إِلَيۡكُمۡ لَمُرۡسَلُونَ
Ba vị Thiên Sứ đáp lại lời của những kẻ ngông cuồng trong đám dân của thị trấn rằng: "Thượng Đế của chúng tôi chắc chắn biết rõ việc chúng tôi đến gặp các người - hỡi dân chúng của thị trấn - chúng tôi là những vị Thiên Sứ chính Ngài đã cử phái chúng tôi đến. Đó là bằng chứng mạnh nhất của chúng tôi."
التفاسير العربية:
وَمَا عَلَيۡنَآ إِلَّا ٱلۡبَلَٰغُ ٱلۡمُبِينُ
Chúng tôi không có trách nhiệm nào ngoài việc truyền đạt lại hết mọi mệnh lệnh mà chúng tôi đã nhận được một cách minh bạch và chúng tôi không hề có quyền hạn gì để chỉ đạo các ngươi.
التفاسير العربية:
قَالُوٓاْ إِنَّا تَطَيَّرۡنَا بِكُمۡۖ لَئِن لَّمۡ تَنتَهُواْ لَنَرۡجُمَنَّكُمۡ وَلَيَمَسَّنَّكُم مِّنَّا عَذَابٌ أَلِيمٞ
Đám dân của thị trấn đáp lại các vị Thiên Sứ: "Quả thật, chúng tôi đã gieo quẻ biết rằng các người là điềm gở. Nếu như các người không chịu dừng lại việc kêu gọi chúng tôi đến với Tawhid tôn thờ duy nhất Allah thì chúng tôi sẽ áp dụng ngay hình phạt với các người bằng việc ném đá đến khi nào các người chết mới thôi một hình phạt thật là khủng khiếp và đau đớn."
التفاسير العربية:
قَالُواْ طَـٰٓئِرُكُم مَّعَكُمۡ أَئِن ذُكِّرۡتُمۚ بَلۡ أَنتُمۡ قَوۡمٞ مُّسۡرِفُونَ
Các vị Thiên Sứ đáp lại bọn chúng: "Việc bói toán của quý vị luôn bám chặt quý vị vì do quý vị phủ nhận Allah và không tuân theo các vị Thiên Sứ của Ngài. Làm sao quý vị vẫn còn bói toán khi được nhắc về Allah cho được cơ chứ? Không, quý vị đúng là một đám người tội lỗi vì sự vô đức tin và nhiều tội lỗi khác.
التفاسير العربية:
وَجَآءَ مِنۡ أَقۡصَا ٱلۡمَدِينَةِ رَجُلٞ يَسۡعَىٰ قَالَ يَٰقَوۡمِ ٱتَّبِعُواْ ٱلۡمُرۡسَلِينَ
Bỗng có một người đàn ông đến từ một nơi thật xa xôi của ngôi làng rất vội vã chạy lại vì sợ hãi người dân của mình cho các vị Thiên Sứ dốc láo và sẽ đe dọa họ rồi sợ sẽ giết chết họ hay hảm hại họ, y bảo: "Này hỡi người dân của ta! Hãy tuân theo những gì mà các vị Thiên Sứ mang đến đi."
التفاسير العربية:
ٱتَّبِعُواْ مَن لَّا يَسۡـَٔلُكُمۡ أَجۡرٗا وَهُم مُّهۡتَدُونَ
Hãy tuân theo họ đi - hỡi người dân của ta - những người mà không cần bất cứ tiền thù lao gì của qúy vị mà khi đã hoàn tất hết nhiệm vụ của họ đối với các ngươi, và họ là những người được hướng dẫn một cách hoàn thiện bởi Allah qua lời mặc khải của Ngài. Bởi thế, họ là những người xứng đáng để noi theo.
التفاسير العربية:
وَمَالِيَ لَآ أَعۡبُدُ ٱلَّذِي فَطَرَنِي وَإِلَيۡهِ تُرۡجَعُونَ
Và người đàn ông đó khuyên bảo rằng: "Điều gì, có thể ngăn cản tôi thờ phượng Allah Đấng mà đã tạo hóa ra tôi ? Và điều gì có thể ngăn cản quý vị thờ phượng Thượng Đế của quý vị Đấng đã tạo hóa ra quý vị và cũng là Đấng duy nhất sẽ đưa quý vị trở về gặp lại Ngài vào Ngày Phục Sinh để nhận lấy kết quả ?"
التفاسير العربية:
ءَأَتَّخِذُ مِن دُونِهِۦٓ ءَالِهَةً إِن يُرِدۡنِ ٱلرَّحۡمَٰنُ بِضُرّٖ لَّا تُغۡنِ عَنِّي شَفَٰعَتُهُمۡ شَيۡـٔٗا وَلَا يُنقِذُونِ
Làm sao tôi có thể thờ phượng những thần linh nào khác ngoài Allah, trong khi Ngài đã tạo hóa ra tôi để đến với việc thờ phượng những thứ không xứng đáng? Quả thật, nếu như Đấng Al-Rahman muốn hãm hại tôi thì không có một thần linh nào có quyền lực giúp đỡ. Chắc rằng chúng không có khả năng cứu vớt hay hãm hại tôi được, lại càng không bảo về tôi tránh khỏi tai ương mà Allah có ý định cho tôi chết là kẻ phủ nhận đức tin.
التفاسير العربية:
إِنِّيٓ إِذٗا لَّفِي ضَلَٰلٖ مُّبِينٍ
"Nếu như tôi đi thờ phượng một thần linh nào khác ngoài Allah thì quả thật tôi sẽ là một người quá là sai lầm một cách rõ rệt vì kẻ mà tôi tôn thờ không xứng đáng để cho tôi thờ phượng mà phải bỏ lỡ đi việc tôn thờ Allah."
التفاسير العربية:
إِنِّيٓ ءَامَنتُ بِرَبِّكُمۡ فَٱسۡمَعُونِ
"Quả thật, giờ đây tôi - hỡi dân làng - đã tin tưởng vào Thượng Đế của tôi và cũng là Thượng Đế của tất cả quý vị. Xin quý vị hãy nghe lời khuyên của tôi, và tôi sẽ không bận tâm đến những gì quý vị đang đe dọa là sẽ giết chết tôi. Vì vậy, đám dân chúng của ông đã giết chết ông. Thế nên, Allah là Đấng đã ban cho ông vào được Thiên Đàng."
التفاسير العربية:
قِيلَ ٱدۡخُلِ ٱلۡجَنَّةَۖ قَالَ يَٰلَيۡتَ قَوۡمِي يَعۡلَمُونَ
Bỗng có một lời phán bảo thật là cao quý vang lên sau khi ông bị giết vì chính đạo của Allah: "Nhà ngươi hãy bước vào Thiên Đàng." Bởi thế, khi ông ta bước vào và nhìn thấy những hồng ân làm ông chóng ngợp ở chốn Thiên Đàng làm ông phải thốt lên trong sự nghẹn ngào: "Ôi, thật khổ thân cho dân chúng của tôi quá. Phải chi họ biết được những gì tôi được hưởng."
التفاسير العربية:
بِمَا غَفَرَ لِي رَبِّي وَجَعَلَنِي مِنَ ٱلۡمُكۡرَمِينَ
Như được tha thứ tội lỗi mà tôi đã phạm và biết bao thiên ân khác mà Ngài đã ban cho. Giá như họ cũng tin tưởng như tôi là họ đã được hưởng như tôi rồi.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أهمية القصص في الدعوة إلى الله.
* Tầm quan trọng của những câu chuyện - nói về những điều tốt đẹp hay những hình phạt của thế hệ trước... - trong tuyên truyền kêu gọi đến với Allah.

• الطيرة والتشاؤم من أعمال الكفر.
* Việc mê tính và sự bi quan là những hành động vô đức tin.

• النصح لأهل الحق واجب .
* Khuyên bảo những người chân chính là bổn phận bắt buộc

• حب الخير للناس صفة من صفات أهل الإيمان.
* Yêu thương, mong muốn mọi người có được những điều tốt đẹp là một trong những phẩm chất của những người có đức tin.


۞وَمَآ أَنزَلۡنَا عَلَىٰ قَوۡمِهِۦ مِنۢ بَعۡدِهِۦ مِن جُندٖ مِّنَ ٱلسَّمَآءِ وَمَا كُنَّا مُنزِلِينَ
TA đã không phái đội quân Thiên Thần từ trời xuống chỉ vì mục đích tiêu diệt cộng đồng của Y, đám người đã chối bỏ Y và sát hại Y. TA cũng chưa từng phái Thiên Thần đến với bất cứ cộng đồng nào khi tiêu diệt chúng, bởi lẽ việc tiêu diệt chúng rất dễ dàng đối với TA. Quả thật, TA đã tiêu diệt họ bằng một tiếng thét từ trên trời chứ không bằng việc gửi Thiên Thần trừng phạt xuống.
التفاسير العربية:
إِن كَانَتۡ إِلَّا صَيۡحَةٗ وَٰحِدَةٗ فَإِذَا هُمۡ خَٰمِدُونَ
Bởi thế, về câu chuyện tiêu diệt dân chúng của Y TA chỉ cần một tiếng gầm duy nhất giáng lên chúng thì chúng đã chết tươi không còn một kẻ nào trong số bọn chúng có thể sống sót. Bọn chúng giống như đang bị một đám lửa cháy ngùn ngụt rồi sau đó được dập tắt chỉ còn một đống tro tàn không còn sót lại thứ gì.
التفاسير العربية:
يَٰحَسۡرَةً عَلَى ٱلۡعِبَادِۚ مَا يَأۡتِيهِم مِّن رَّسُولٍ إِلَّا كَانُواْ بِهِۦ يَسۡتَهۡزِءُونَ
Ôi! Thật tội nghiệp thay cho đám bầy tôi dối trá và cũng thấy xót xa cho chúng vào ngày Phục Sinh khi bọn chúng chứng kiến những cảnh trừng phạt. Như thế là vì chúng khi còn ở trần gian, không có một vị Thiên Sứ nào được Allah cử phái đến mà không bị chúng giễu cợt hay chế nhạo. Thế nên vào ngày Phục Sinh chúng phải chịu hậu quả cho việc chúng đã vượt quá mức cho phép của Allah.
التفاسير العربية:
أَلَمۡ يَرَوۡاْ كَمۡ أَهۡلَكۡنَا قَبۡلَهُم مِّنَ ٱلۡقُرُونِ أَنَّهُمۡ إِلَيۡهِمۡ لَا يَرۡجِعُونَ
Há! Những kẻ dối trá luôn chế giễu không nhìn thấy bài học của các bậc tiền nhân sống ở thời đại trước chúng đã bị TA giáng hình phạt hay sao? Chắc chắn, các tiền nhân đó đã chết và họ sẽ không thể trở lại trần gian một lần nào nữa. Thế nhưng, chúng vẫn cứ đâm đầu vào những việc làm vô bổ. Dựa vào đó Allah sẽ thanh toán cho việc làm của chúng.
التفاسير العربية:
وَإِن كُلّٞ لَّمَّا جَمِيعٞ لَّدَيۡنَا مُحۡضَرُونَ
Tất cả mọi cộng đồng không có trường hợp ngoại lệ đều sẽ phải trình diện TA vào ngày Phán Xét sau khi đã được TA phục sinh trở lại để nhận lấy kết quả cho từng việc làm của họ.
التفاسير العربية:
وَءَايَةٞ لَّهُمُ ٱلۡأَرۡضُ ٱلۡمَيۡتَةُ أَحۡيَيۡنَٰهَا وَأَخۡرَجۡنَا مِنۡهَا حَبّٗا فَمِنۡهُ يَأۡكُلُونَ
Và có một dấu hiệu cho những kẻ dối trá nhận thấy được rằng TA (Allah) đã tái sinh mà sự tái sinh đó hoàn toàn là sự thật: Đó là một mảnh đất đã chết khô được TA tưới lên những trận mưa từ trên trời xuống. Bởi thế, TA đã làm cho cây cối đâm chồi nảy lộc đơm hoa kết trái cho ra những loại hoa quả thơm ngon để nhân loại dùng làm thực phẩm. Bởi thế, sự tái sinh mảnh đất chết khô bằng những trận mưa làm cho cây cối đâm chồi nảy lộc là minh chứng rằng TA thừa khả năng phục sinh chúng từ cái chết trở lại.
التفاسير العربية:
وَجَعَلۡنَا فِيهَا جَنَّـٰتٖ مِّن نَّخِيلٖ وَأَعۡنَٰبٖ وَفَجَّرۡنَا فِيهَا مِنَ ٱلۡعُيُونِ
Và TA biến mảnh đất ấy bằng những trận mưa tưới lên khiến nó trở thành hai mảnh vườn chà là và vườn nho và TA cũng đã làm cho nó có những mạch nước ngầm cho việc tưới tiêu.
التفاسير العربية:
لِيَأۡكُلُواْ مِن ثَمَرِهِۦ وَمَا عَمِلَتۡهُ أَيۡدِيهِمۡۚ أَفَلَا يَشۡكُرُونَ
Để cho cả nhân loại hái ăn những loại trái cây từ hai mảnh vườn mà đã được Allah ban ân đến cho họ và đó là việc làm mà họ không thể làm được nó. Vậy mà họ còn không chịu tri ân Allah về các ân huệ của Ngài, họ không chịu thờ thượng duy nhất mình Ngài và tin tưởng vào các vị Thiên Sứ của Ngài, tại sao?
التفاسير العربية:
سُبۡحَٰنَ ٱلَّذِي خَلَقَ ٱلۡأَزۡوَٰجَ كُلَّهَا مِمَّا تُنۢبِتُ ٱلۡأَرۡضُ وَمِنۡ أَنفُسِهِمۡ وَمِمَّا لَا يَعۡلَمُونَ
Ôi! Thật thiêng liêng thay Allah Đấng Tối Cao, Đấng đã tạo ra cây cối và chính bản thân của loài người thành hai giới tính đực cái và cả trong những thứ mà nhân loại không biết từ đất liền, biển cả và những môi trường khác.
التفاسير العربية:
وَءَايَةٞ لَّهُمُ ٱلَّيۡلُ نَسۡلَخُ مِنۡهُ ٱلنَّهَارَ فَإِذَا هُم مُّظۡلِمُونَ
Và có một bằng chứng để cho nhân loại tôn thờ một mình Allah, đó là TA (Allah) đã di chuyển ban ngày đi và để ban đêm đến; TA đem đến cho họ một màng đêm mù mịt sau khi ta đem ánh sáng ban ngày ra đi. Bởi thế, nhân loại chìm vào bóng tối.
التفاسير العربية:
وَٱلشَّمۡسُ تَجۡرِي لِمُسۡتَقَرّٖ لَّهَاۚ ذَٰلِكَ تَقۡدِيرُ ٱلۡعَزِيزِ ٱلۡعَلِيمِ
Có một dấu hiệu cho chúng tin tưởng vào Allah duy nhất là mặt trời sẽ di chuyển theo quỹ đạo của nó đến một thời hạn ấn định, điều mà chỉ có Allah mới biết rõ được thời khắc ấn định đó, không hề có bất cư sai lệch nào. Vì đó là sự định đoạt và an bài của Đấng Đầy Quyền Lực, Đấng mà không một ai vượt qua được quyền năng của Ngài và Ngài là Đấng Toàn Tri, không gì có thể che giấu được Ngài.
التفاسير العربية:
وَٱلۡقَمَرَ قَدَّرۡنَٰهُ مَنَازِلَ حَتَّىٰ عَادَ كَٱلۡعُرۡجُونِ ٱلۡقَدِيمِ
Và có một dấu hiệu cho họ để khẳng định tính duy nhất của Allah, đó là mặt trăng được Ngài ấn định thành những giai đoạn tròn khuyết cho tất cả các đêm; bắt đầu từ giai đoạn nhỏ (trăng lưỡi liềm) sau đó lớn dần lên (mặt trăng tròn) rồi lại nhỏ đi cho đến khi nó trở lại trạng thái (vầng trăng khuyết) giống như một quầy chà là đã chín vàng uốn công lại trông mỏng như lá lúa, hoặc cong như chiếc lưỡi liềm.
التفاسير العربية:
لَا ٱلشَّمۡسُ يَنۢبَغِي لَهَآ أَن تُدۡرِكَ ٱلۡقَمَرَ وَلَا ٱلَّيۡلُ سَابِقُ ٱلنَّهَارِۚ وَكُلّٞ فِي فَلَكٖ يَسۡبَحُونَ
Và các dấu hiệu như mặt trời, mặt trăng, ban đêm và ban ngày luôn di chuyển và vận hành theo đúng qui trình mà Allah đã ấn định, không có bất cứ sự sai lệch nào trong sự ấn định đó của Ngài. Bởi thế, mặt trời không được được phép phạm vào quỹ đạo của mặt trăng làm thay đổi hành trình vận hành hoặc làm mất đi ánh sáng của nó. Tương tự, ban đêm sẽ không được phép đi trước ban ngày khi giờ của ban ngày vẫn chưa kết thúc. Tất cả mọi tạo vật buộc phải di chuyển và vận hành đúng theo quỹ đạo của nó như đã được Allah ấn định và sắp đặt.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• ما أهون الخلق على الله إذا عصوه، وما أكرمهم عليه إن أطاعوه.
* Hành vi tồi tệ nhất của tạo vật đối với Allah là bất tuân Ngài còn tạo vật cao quí nhất đối với Allah tuân phục Ngài.

• من الأدلة على البعث إحياء الأرض الهامدة بالنبات الأخضر، وإخراج الحَبِّ منه.
* Việc Allah làm cho mảnh đất chết khô sống lại bởi bạc ngàn cây cối xanh tươi là một trong những minh chứng rằng Ngài thừa khả năng phục sinh con người sống lại.

• من أدلة التوحيد: خلق المخلوقات في السماء والأرض وتسييرها بقدر.
* Một trong những bằng chứng cho tính duy nhất của Allah: Ngài đã tạo hóa các vạn vật ở trong bầu trời và trái đất đều hoạt động và vận hành theo một qui luật đã định.


وَءَايَةٞ لَّهُمۡ أَنَّا حَمَلۡنَا ذُرِّيَّتَهُمۡ فِي ٱلۡفُلۡكِ ٱلۡمَشۡحُونِ
Và có một dấu hiệu nữa cho chúng tin tưởng vào tính duy nhất của Allah cũng như để khẳng định về Hồng Phúc của Ngài dành cho chúng chính là Ngài đã che chở con cháu của Adam vào ở thời đại của Nuh được sống sót qua trận đại hồng thủy trên một chiếc tàu chở đầy tạo vật của Ngài. Quả thật, Allah đã chuyên chở đầy trên con thuyền đó mỗi thứ một cặp.
التفاسير العربية:
وَخَلَقۡنَا لَهُم مِّن مِّثۡلِهِۦ مَا يَرۡكَبُونَ
Và có một dấu hiệu cho chúng tin vào tính duy nhất của Ngài cũng như cho thấy Hồng Phúc của Ngài đối với đám bầy tôi của Ngài là việc Ngài đã tạo ra cho chúng một chiếc tàu giống như chiếc tàu của Nuh để chuyên chở chúng.
التفاسير العربية:
وَإِن نَّشَأۡ نُغۡرِقۡهُمۡ فَلَا صَرِيخَ لَهُمۡ وَلَا هُمۡ يُنقَذُونَ
Và nếu muốn, TA sẽ nhấn chìm hết bọn chúng chết đuối và chúng không còn chút khả năng nào van xin hay cầu cứu một ai và cũng không một ai có khả năng cứu vớt chúng nếu như mệnh lệnh của TA được ban hành và thực thi.
التفاسير العربية:
إِلَّا رَحۡمَةٗ مِّنَّا وَمَتَٰعًا إِلَىٰ حِينٖ
Ngoại trừ những ai được TA Thương Xót cứu vớt họ thoát khỏi sự chết đuối và cho họ được hưởng thụ khoái lạc trong một thời hạn đã được ấn định nhưng sẽ không có sự sai lệch nào về thời gian dù chỉ là một khoảnh khắc, để may ra cho chúng biết nghiền ngẫm để trở thành những người có đức tin.
التفاسير العربية:
وَإِذَا قِيلَ لَهُمُ ٱتَّقُواْ مَا بَيۡنَ أَيۡدِيكُمۡ وَمَا خَلۡفَكُمۡ لَعَلَّكُمۡ تُرۡحَمُونَ
Và khi có lời kêu gọi những tên đa thần ương ngạnh đến với đức tin: "Các ngươi hãy cảnh giác điều trước (trên trần gian) và điều sau (ở đời sau) của các ngươi một cách hết sức thận trọng và hãy luôn luôn có sự cảnh giác ở trên trần gian này may ra các ngươi nhận được lòng Khoan Dung của Allah." Tuy nhiên, chúng không làm được như thế mà ngược lại chúng là những tên thờ ơ, quay lưng với lời kêu gọi đó.
التفاسير العربية:
وَمَا تَأۡتِيهِم مِّنۡ ءَايَةٖ مِّنۡ ءَايَٰتِ رَبِّهِمۡ إِلَّا كَانُواْ عَنۡهَا مُعۡرِضِينَ
Và bất cứ khi nào các dấu hiệu nào của Allah được đem đến cho những kẻ đa thần cứng đầu để khẳng định tính duy nhất của Ngài và chỉ riêng Ngài đáng thờ phượng thì bọn chúng đều thẳng thừng quay lưng bỏ đi.
التفاسير العربية:
وَإِذَا قِيلَ لَهُمۡ أَنفِقُواْ مِمَّا رَزَقَكُمُ ٱللَّهُ قَالَ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ لِلَّذِينَ ءَامَنُوٓاْ أَنُطۡعِمُ مَن لَّوۡ يَشَآءُ ٱللَّهُ أَطۡعَمَهُۥٓ إِنۡ أَنتُمۡ إِلَّا فِي ضَلَٰلٖ مُّبِينٖ
Và khi có lời bảo những tên cứng đầu này:" Hãy giúp đỡ những người nghèo và những người gặp khó khăn bằng khối tài sản mà chính Allah đã ban bố cho quý vị." Chúng đáp lại với những người có đức tin rằng: "Chẳng lẽ chúng tôi phải nuôi ăn người mà nếu Allah muốn thì Ngài sẽ nuôi ăn người đó sao? Không, chúng tôi không phải là những người làm trái ý muốn của Ngài, các ngươi - hỡi những người có đức tin - thực sự là những người làm điều sai quấy một cách rõ ràng và ở xa chân lý."
التفاسير العربية:
وَيَقُولُونَ مَتَىٰ هَٰذَا ٱلۡوَعۡدُ إِن كُنتُمۡ صَٰدِقِينَ
Và những kẻ vô đức tin phủ nhận sự phục sinh của bảo: "Bao giờ mới xảy ra sự phục sinh nếu các ngươi - hỡi những người có đức tin - là những người nói thật rằng nó thực sự xảy ra?"
التفاسير العربية:
مَا يَنظُرُونَ إِلَّا صَيۡحَةٗ وَٰحِدَةٗ تَأۡخُذُهُمۡ وَهُمۡ يَخِصِّمُونَ
Điều mà những kẻ phủ nhận này đang chờ đợi chỉ là một tiếng còi đầu tiên được thổi lên. Bởi thế, khi tiếng còi đó được hụ lên, nó sẽ túm bắt lấy chúng trong lúc chúng đang bận rộn với cuộc sống trần gian này từ việc mua bán, trồng trọt, chăn nuôi và những bận rộn khác của cõi trần.
التفاسير العربية:
فَلَا يَسۡتَطِيعُونَ تَوۡصِيَةٗ وَلَآ إِلَىٰٓ أَهۡلِهِمۡ يَرۡجِعُونَ
Bởi thế, khi tiếng còi được hụ lên một cách bất ngờ thì chúng không kịp trăn trối cho nhau và chúng cũng không kịp trở về nhà đoàn tụ với gia đình của chúng. Không, chúng sẽ chết trong tình trạng bận rộn về những điều trần gian của chúng.
التفاسير العربية:
وَنُفِخَ فِي ٱلصُّورِ فَإِذَا هُم مِّنَ ٱلۡأَجۡدَاثِ إِلَىٰ رَبِّهِمۡ يَنسِلُونَ
Và khi tiếng còi thứ hai được thổi lên vào ngày Phục Sinh thì chúng lần lượt từ dưới ngôi mộ đi ra và nhanh chân chạy đến Thượng Đế của chúng để nhận lấy sự thưởng phạt công minh từ nơi Ngài.
التفاسير العربية:
قَالُواْ يَٰوَيۡلَنَا مَنۢ بَعَثَنَا مِن مَّرۡقَدِنَاۜۗ هَٰذَا مَا وَعَدَ ٱلرَّحۡمَٰنُ وَصَدَقَ ٱلۡمُرۡسَلُونَ
Những kẻ vô đức tin phủ nhận sự phục sinh nói trong hối hận: " Ôi! Thật khổ cho thân chúng tôi. Ai đã làm chúng tôi sống lại từ nơi cõi mộ của chúng tôi vậy?" Rồi có lời đáp lại chúng: "Đấy chính là điều mà Allah đã hứa và chắc chắn nó phải diễn ra, và đây cũng là điều đã được các vị Thiên Sứ xác nhận trong bức Thông Điệp mà họ truyền đạt."
التفاسير العربية:
إِن كَانَتۡ إِلَّا صَيۡحَةٗ وَٰحِدَةٗ فَإِذَا هُمۡ جَمِيعٞ لَّدَيۡنَا مُحۡضَرُونَ
Việc phục sinh chúng trở lại từ cõi mộ chẳng là gì ngoài việc chỉ cần một tiếng còi hụ thứ hai thì tất cả bọn chúng sẽ được tập hợp rồi được đưa đến trình diện trước TA vào ngày phán xét để nhận lấy sự thưởng phạt công minh của TA.
التفاسير العربية:
فَٱلۡيَوۡمَ لَا تُظۡلَمُ نَفۡسٞ شَيۡـٔٗا وَلَا تُجۡزَوۡنَ إِلَّا مَا كُنتُمۡ تَعۡمَلُونَ
Dưới sự phán xét Anh Minh Chính Trực (của Allah) vào ngày hôm đó, các ngươi - hỡi đám bầy tôi - sẽ không bị đối xử bất công bất cứ điều gì, việc xấu của các ngươi sẽ không bị thêm vào hay việc tốt của các ngươi cũng không bị lấy bớt đi mà quả thật các ngươi sẽ nhận lấy đầy đủ mọi điều mà các ngươi đã làm ở cuộc sống trần gian.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• من أساليب تربية الله لعباده أنه جعل بين أيديهم الآيات التي يستدلون بها على ما ينفعهم في دينهم ودنياهم.
* Một trong những cách thức mà Allah chỉ đạo thờ thượng Ngài là Ngài để những lời mặc khải của Ngài trước mặt họ để cho họ rút ra những gì đem lại lợi ích trong tôn giáo của họ và cuộc sồng trần gian của họ.

• الله تعالى مكَّن العباد، وأعطاهم من القوة ما يقدرون به على فعل الأمر واجتناب النهي، فإذا تركوا ما أمروا به، كان ذلك اختيارًا منهم.
* Allah là Đấng Tối Cao đã ban khả năng cho đám bầy tôi của Ngài. Ngài đã ban cho họ có một sức mạnh đủ để thực hiện những điều Ngài ra lệnh thi hành và tránh xa những gì mà Ngài nghiêm cấm. Bởi thế, nếu ai bỏ mặc những điều Ngài ra lệnh thì đó là sự lựa chọn từ nơi họ.

* Vào ngày Phán Xét, những người có đức tin sẽ thấy được lòng nhân từ của Thượng Đế của họ dành cho họ bao la như thế nào, điều mà họ chưa từng hình dung trong tâm trí của mình.


إِنَّ أَصۡحَٰبَ ٱلۡجَنَّةِ ٱلۡيَوۡمَ فِي شُغُلٖ فَٰكِهُونَ
Quả thật, vào ngày Phán Xét, cư dân của Thiên Đàng sẽ không lo nghĩ đến ai khác bởi những gì họ đang chứng kiến từ niềm hạnh phúc vĩnh hằng, sự thành công vĩ đại. Họ cảm thấy vui sướng tột cùng trước phần thưởng đó.
التفاسير العربية:
هُمۡ وَأَزۡوَٰجُهُمۡ فِي ظِلَٰلٍ عَلَى ٱلۡأَرَآئِكِ مُتَّكِـُٔونَ
Họ và những người vợ của họ cùng nhau tận hưởng niềm hạnh phúc, họ sẽ nằm trên những chiếc trường kỉ cao bên dưới bóng mát của các Ngôi Vườn Thiên đàng.
التفاسير العربية:
لَهُمۡ فِيهَا فَٰكِهَةٞ وَلَهُم مَّا يَدَّعُونَ
Trong Thiên Đàng, sẽ có đủ loại hoa quả tươi ngọn cho họ từ nho, sung, lựu và những gì họ yêu cầu. Họ sẽ có mọi thứ hưởng thụ mà họ mong muốn.
التفاسير العربية:
سَلَٰمٞ قَوۡلٗا مِّن رَّبّٖ رَّحِيمٖ
Và điều hạnh phúc nhất đối với họ là lời chào Salam từ Thượng Đế Đấng Rất Mực Khoan Dung đến với họ. Bởi thế, khi Ngài chào Salam đến họ thì họ sẽ được bằng an về mọi phương diện và họ sẽ được lời chúc mừng mà không có lời chúc nào tốt hơn.
التفاسير العربية:
وَٱمۡتَٰزُواْ ٱلۡيَوۡمَ أَيُّهَا ٱلۡمُجۡرِمُونَ
Và vào ngày Phán Xét, những kẻ đa thần sẽ được bảo: "Các ngươi hãy dang ra, hãy tránh ra xa khỏi những người có đức tin, bởi họ không phù hợp ở cùng với các ngươi, để tương phản rõ ràng phần thưởng của các ngươi với phần thưởng của họ, và để tương phản rõ ràng nhóm các ngươi với nhóm của họ."
التفاسير العربية:
۞أَلَمۡ أَعۡهَدۡ إِلَيۡكُمۡ يَٰبَنِيٓ ءَادَمَ أَن لَّا تَعۡبُدُواْ ٱلشَّيۡطَٰنَۖ إِنَّهُۥ لَكُمۡ عَدُوّٞ مُّبِينٞ
Há TA đã không chỉ dụ và sắc lệnh cho các ngươi qua những chiếc lưỡi của các vị Thiên Sứ của TA rằng: "Này hỡi con cháu Adam, các ngươi chớ tuân theo Shaytan trong việc phạm vào các loại vô đức tin và tội lỗi. Quả thật, Shaytan là kẻ thù công khai của các ngươi. Làm sao mà một người khôn ngoan có thể tuân theo kẻ thù của y, kẻ thù mà nó đã được công khai cho y?!
التفاسير العربية:
وَأَنِ ٱعۡبُدُونِيۚ هَٰذَا صِرَٰطٞ مُّسۡتَقِيمٞ
TA (Allah) đã sắc lệnh cho các ngươi - hỡi con cháu Adam - rằng hãy tôn thờ duy nhất mình TA, không được phép tổ hợp TA với bất cứ ai (vật gì). Việc thờ phượng riêng một mình TA và luôn vâng lời TA là con đường ngay thẳng dẫn đến sự hài lòng của TA và dẫn lối đến Thiên Đàng. Thế nhưng, các ngươi đã không tuân theo chỉ dụ và sắc lệnh của TA.
التفاسير العربية:
وَلَقَدۡ أَضَلَّ مِنكُمۡ جِبِلّٗا كَثِيرًاۖ أَفَلَمۡ تَكُونُواْ تَعۡقِلُونَ
Và quả thật, Shaytan đã làm lầm lạc đa số các ngươi. Chẳng lẽ các ngươi không có khối óc để hiểu rằng các ngươi được sắc lệnh tuân thủ theo Thượng Đế của các ngươi và tôn thờ duy nhất một mình Ngài - Đấng Vinh Quang - thôi ư?! Chẳng lẽ các ngươi không có khối óc để hiểu ra rằng TA đã cảnh báo các ngươi về việc đi theo Shaytan - kẻ thù công khai của các ngươi ư?!
التفاسير العربية:
هَٰذِهِۦ جَهَنَّمُ ٱلَّتِي كُنتُمۡ تُوعَدُونَ
Đây chính là Hỏa Ngục mà các ngươi đã từng hứa hẹn khi còn ở trên trần gian vì tội vô đức tin của các ngươi. Nó là thứ đã từng vô hình đối với các ngươi nhưng giờ đây các ngươi đã tận mắt nhìn thấy Nó.
التفاسير العربية:
ٱصۡلَوۡهَا ٱلۡيَوۡمَ بِمَا كُنتُمۡ تَكۡفُرُونَ
Ngay hôm nay, các ngươi hãy đi vào Hỏa Ngục, các ngươi hãy hứng chịu cái nóng của Nó bởi sự vô đức tin nơi Allah của các ngươi lúc còn sống ở trên trần thế.
التفاسير العربية:
ٱلۡيَوۡمَ نَخۡتِمُ عَلَىٰٓ أَفۡوَٰهِهِمۡ وَتُكَلِّمُنَآ أَيۡدِيهِمۡ وَتَشۡهَدُ أَرۡجُلُهُم بِمَا كَانُواْ يَكۡسِبُونَ
Ngày Hôm nay, TA (Allah) sẽ khóa miệng chúng lại, chúng trở nên căm lặng không thể chối cải về những gì mà chúng đã từng vô đức tin và trái lệnh. TA sẽ khiến đôi tay của chúng nói chuyện để tố cáo chúng về những gì mà đã từng làm ở trần gian, TA để cho đôi chân của chúng làm nhân chứng cho những tội lỗi mà chúng đã từng bước đi đến với nó.
التفاسير العربية:
وَلَوۡ نَشَآءُ لَطَمَسۡنَا عَلَىٰٓ أَعۡيُنِهِمۡ فَٱسۡتَبَقُواْ ٱلصِّرَٰطَ فَأَنَّىٰ يُبۡصِرُونَ
Và nếu muốn TA (Allah) sẽ lấy đi ánh sáng của chúng khiến chúng bước đi trong sự tăm tối mù lòa. Chúng tranh nhau chạy đến chiếc cầu Sirat hầu đi qua để đến với Thiên Đàng nhưng chúng làm sao có thể đi qua được trong khi đôi mắt của chúng đã bị mù lòa.
التفاسير العربية:
وَلَوۡ نَشَآءُ لَمَسَخۡنَٰهُمۡ عَلَىٰ مَكَانَتِهِمۡ فَمَا ٱسۡتَطَٰعُواْ مُضِيّٗا وَلَا يَرۡجِعُونَ
Và nếu muốn, TA (Allah) sẽ khiến cho chúng đứng yên tại chỗ trên đôi chân của chúng, chúng không thể di chuyển khỏi vị trí của chúng, chúng không thể bước tới phía trước cũng không thể bước lui về phía sau.
التفاسير العربية:
وَمَن نُّعَمِّرۡهُ نُنَكِّسۡهُ فِي ٱلۡخَلۡقِۚ أَفَلَا يَعۡقِلُونَ
Và những ai trong nhân loại được TA (Allah) kéo dài cuộc sống của y làm cho y sống thọ thêm thì TA sẽ biến y trở lại thành một người yếu ớt. Há chúng không chịu suy nghĩ để ngộ ra rằng trần gian này chỉ là cuộc sống tạm bợ và cuộc sống Đời Sau mới là vĩnh hằng ư?!
التفاسير العربية:
وَمَا عَلَّمۡنَٰهُ ٱلشِّعۡرَ وَمَا يَنۢبَغِي لَهُۥٓۚ إِنۡ هُوَ إِلَّا ذِكۡرٞ وَقُرۡءَانٞ مُّبِينٞ
Và TA (Allah) đã không dạy Muhammad (cầu xin Allah bình an cho người) thơ ca, vì điều đó không phù hợp với Y và cũng không phải thuộc kỹ năng của Y để Y hô to với các ngươi rằng Y là một nhà thơ. Quả thật cái mà TA dạy Y chính là lời Nhắc Nhở và Thiên Kinh Qur'an minh bạch dành cho những ai biết suy ngẫm về Nó.
التفاسير العربية:
لِّيُنذِرَ مَن كَانَ حَيّٗا وَيَحِقَّ ٱلۡقَوۡلُ عَلَى ٱلۡكَٰفِرِينَ
Mục đích để Y cảnh báo những ai có con tim còn sống biết nhận thức hầu mang lại điều lợi cho họ; và để những kẻ vô đức tin không còn lý do để chối cãi về tội lỗi của chúng khi chúng bị trừng phạt bởi vì lời cảnh báo đã đến với chúng.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• في يوم القيامة يتجلى لأهل الإيمان من رحمة ربهم ما لا يخطر على بالهم.
* Cư dân Thiên Đàng sẽ hài lòng và hạnh phúc với những gì làm các linh hồn yêu thích, cặp mắt đầy sung sướng và với những gì họ từng khao khát mơ ước.

• أهل الجنة مسرورون بكل ما تهواه النفوس وتلذه العيون ويتمناه المتمنون.
* Người có trái tim thực sự là người được thanh lọc bởi Thiên Kinh Qur'an, và sự thanh lọc được gia tăng bởi sự hiểu biết từ Nó và làm theo Nó.

• ذو القلب هو الذي يزكو بالقرآن، ويزداد من العلم منه والعمل.
* Các bộ phận cơ thể của con người sẽ là nhân chứng tố cáo y vào ngày Phán Xét.


أَوَلَمۡ يَرَوۡاْ أَنَّا خَلَقۡنَا لَهُم مِّمَّا عَمِلَتۡ أَيۡدِينَآ أَنۡعَٰمٗا فَهُمۡ لَهَا مَٰلِكُونَ
Há chúng không thấy TA (Allah) đã tạo hóa các loại gia súc cho chúng để chúng tự do sử dụng cho lợi ích của chúng ư?!
التفاسير العربية:
وَذَلَّلۡنَٰهَا لَهُمۡ فَمِنۡهَا رَكُوبُهُمۡ وَمِنۡهَا يَأۡكُلُونَ
Và TA đã làm cho các loài gia súc phục tùng chúng. Bởi thế, một số loài chúng dùng để cưỡi trên lưng và còn chuyên chở các vật nặng cho chúng và một số loài chúng dùng để ăn thịt.
التفاسير العربية:
وَلَهُمۡ فِيهَا مَنَٰفِعُ وَمَشَارِبُۚ أَفَلَا يَشۡكُرُونَ
Và ngoài việc dùng để cưỡi và chuyên chở đồ đạc cũng như để lấy thịt ăn thì các loài gia súc đó còn cho chúng nhiều mối lợi khác chẳng hạn như lông được dùng làm những tấm trải và quần áo; và chúng còn có nguồn thức uống từ các loại gia súc như sữa tươi. Thế bấy nhiêu Hồng Ân và còn những điều hơn thế nữa không đáng để cho chúng tri ân Allah hay sao?
التفاسير العربية:
وَٱتَّخَذُواْ مِن دُونِ ٱللَّهِ ءَالِهَةٗ لَّعَلَّهُمۡ يُنصَرُونَ
Và những kẻ đa thần nhận các thần linh khác ngoài Allah để tôn thờ với niềm hy vọng các thần linh đó có thể giúp đỡ chúng thoát khỏi sự trừng phạt của Allah.
التفاسير العربية:
لَا يَسۡتَطِيعُونَ نَصۡرَهُمۡ وَهُمۡ لَهُمۡ جُندٞ مُّحۡضَرُونَ
Những thần linh mà họ đã thờ phượng chúng sẽ không giúp đỡ được gì cho bản thân họ và cũng không trợ giúp được gì cho việc họ đã tôn thờ chúng thay vì Allah. Và chúng chẳng qua chỉ là những pho tượng sẽ được tập hợp lại cùng với họ trong sự trừng phạt rồi tất cả bọn chúng lại chối bỏ nhau.
التفاسير العربية:
فَلَا يَحۡزُنكَ قَوۡلُهُمۡۘ إِنَّا نَعۡلَمُ مَا يُسِرُّونَ وَمَا يُعۡلِنُونَ
Bởi thế, Ngươi - hỡi Thiên Sứ - chớ buồn phiền về những lời lẽ chế giễu của bọn chúng khi chúng nói rằng quả thật, Ngươi chẳng phải là một vị Thiên Sứ cũng chẳng là một nhà thơ phú hoặc chẳng là gì mà có thể thuyết phục được chúng. Quả thật, TA là Đấng đã biết rõ được những điều thầm kín và những điều công khai của chúng, không có gì có thể che giấu được TA và dựa vào đó TA sẽ trừng trị bọn chúng thích đáng.
التفاسير العربية:
أَوَلَمۡ يَرَ ٱلۡإِنسَٰنُ أَنَّا خَلَقۡنَٰهُ مِن نُّطۡفَةٖ فَإِذَا هُوَ خَصِيمٞ مُّبِينٞ
Há nhân loại không nghĩ đến việc Phục Sinh sau khi chết trong khi TA đã tạo hóa ra y từ một giọt tinh trùng trải qua nhiều giai đoạn cho đến khi y được hạ sinh và lớn lên hay sao mà lại có nhiểu tranh cãi? Há nhân loại không thấy sự việc đó là bằng chứng về việc Ngài thừa khả năng Phục Sinh hay sao?!
التفاسير العربية:
وَضَرَبَ لَنَا مَثَلٗا وَنَسِيَ خَلۡقَهُۥۖ قَالَ مَن يُحۡيِ ٱلۡعِظَٰمَ وَهِيَ رَمِيمٞ
Tầm hạn hẹp của kẻ vô đức tin và ngu dốt ki y lấy việc những khúc xương đã mục để làm bằng chứng cho việc không thể nào phục sinh. Y bảo " Ai có khả năng khôi phục nó lại được?" nhưng y lại quên mất bản thân y đã được tạo hóa ra từ không là gì cả.
التفاسير العربية:
قُلۡ يُحۡيِيهَا ٱلَّذِيٓ أَنشَأَهَآ أَوَّلَ مَرَّةٖۖ وَهُوَ بِكُلِّ خَلۡقٍ عَلِيمٌ
Ngươi- hỡi Muhammad - hãy trả lời y: "Đấng phục sinh khúc xương rã mục này là Đấng đã tạo ra nó lúc ban đầu." Bởi thế, việc đã tạo ra được nó lúc ban đầu thì việc tái tạo lại nó lần hai không hề khó khăn. Và Ngài là Đấng Quang Vinh, Ngài Am Tường tất cả mọi tạo hóa của Ngài, không có gì có thể giấu giếm được Ngài.
التفاسير العربية:
ٱلَّذِي جَعَلَ لَكُم مِّنَ ٱلشَّجَرِ ٱلۡأَخۡضَرِ نَارٗا فَإِذَآ أَنتُم مِّنۡهُ تُوقِدُونَ
"Ngài là Đấng đã tạo cho các ngươi - hỡi nhân loại - ngọn lửa từ một loại cây xanh tươi ẩm ướt mà các ngươi dùng nó để nhóm lửa." Bởi thế, Đấng đã kết hợp được giữa hai điều trái ngược - sự ẩm ướt của nước từ cây xanh có thể cho ra lửa cháy bùng - chắc chắn thừa khả năng phục sinh được cái chết.
التفاسير العربية:
أَوَلَيۡسَ ٱلَّذِي خَلَقَ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضَ بِقَٰدِرٍ عَلَىٰٓ أَن يَخۡلُقَ مِثۡلَهُمۚ بَلَىٰ وَهُوَ ٱلۡخَلَّـٰقُ ٱلۡعَلِيمُ
Há Ngài đã tạo hóa ra các tầng trời và trái đất và hai điều đó thật vĩ đại, vậy chẳng lẽ Ngài lại không có khả năng phục sinh chúng sau cái chết ư?! Chắc chắn, Ngài thừa khả năng bởi Ngài là Đấng tạo hóa ra tất cả vạn vật và Rất Mực Am Tường về chúng, không có gì có thể che giấu được Ngài.
التفاسير العربية:
إِنَّمَآ أَمۡرُهُۥٓ إِذَآ أَرَادَ شَيۡـًٔا أَن يَقُولَ لَهُۥ كُن فَيَكُونُ
Quả thật, khi Allah - Đấng Toàn Năng muốn bất cứ điều gì, Ngài chỉ cần phán "Hãy Thành!" thì ngay lập tức nó sẽ trở thành đúng theo ý của Ngài muốn. Tương tự, khi Ngài muốn làm cho sống, làm cho chết và phục sinh cái chết hoặc những những gì khác thì Ngài chỉ cần phán như thế.
التفاسير العربية:
فَسُبۡحَٰنَ ٱلَّذِي بِيَدِهِۦ مَلَكُوتُ كُلِّ شَيۡءٖ وَإِلَيۡهِ تُرۡجَعُونَ
Bởi thế, Allah vinh quang và vượt xa những gì mà những kẻ thờ đa thần đã quy cho Ngài về sự bất lực. Vi Ngài là Đấng nắm quyền Thống Trị tất cả vạn vật, Ngài chi phối vạn vật theo ý Ngài muốn, tất cả mọi thứ đều nằm trong Tay của Ngài và Ngài là Đấng Duy Nhất mà các ngươi sẽ trở về gặp Ngài vào Ngày Sau để nhận lấy hậu quả cho những việc làm của các ngươi.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• من فضل الله ونعمته على الناس تذليل الأنعام لهم، وتسخيرها لمنافعهم المختلفة.
* Một trong những Hồng Phúc của Allah và Ân Huệ của Ngài dành cho nhân loại là Ngài làm cho các loài gia súc phục tùng họ, Ngài để chúng làm nguồn lợi khác nhau cho họ.

• وفرة الأدلة العقلية على يوم القيامة وإعراض المشركين عنها.
* Có rất nhiều bằng chứng để tâm trí chấp nhận ngày Phán Xét cũng như để đáp lại sự phủ nhận của những kẻ đa thần.

• من صفات الله تعالى أن علمه تعالى محيط بجميع مخلوقاته في جميع أحوالها، في جميع الأوقات، ويعلم ما تنقص الأرض من أجساد الأموات وما يبقى، ويعلم الغيب والشهادة.
* Một trong những thuộc tính của Allah, Đấng Tối Cao, là Ngài thông toàn tất cả vạn vật của Ngài trong mọi hoàn cảnh và tình huống, trong mọi không gian và thời gian. Ngài Biết Rõ những gì bị đất phân hủy từ các xác chết và những gì còn lại, Ngài biết những điều vô hình và những điều hữu hình.


 
ترجمة معاني سورة: يس
فهرس السور رقم الصفحة
 
ترجمة معاني القرآن الكريم - الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم - فهرس التراجم

الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم، صادر عن مركز تفسير للدراسات القرآنية.

إغلاق