ترجمة معاني القرآن الكريم - الترجمة الفيتنامية للمختصر في تفسير القرآن الكريم * - فهرس التراجم


ترجمة معاني سورة: البقرة
آية:
 

سورة البقرة - Chương Al-Baqarah

من مقاصد السورة:
الأمر بتحقيق الخلافة في الأرض بإقامة الإسلام، والاستسلام لله، والتحذير من حال بني إسرائيل.
Chuẩn bị cho các tín đồ về việc xây dựng và cải thiện đất đai, thực thi tôn giáo của Allah, trình bày rõ về các dạng người trong nhân loại, nói về các nền tảng căn bản của đức tin Iman và toàn bộ hệ thống giáo lý.

الٓمٓ
"Alif. La-m. Mi-m" là những chữ cái trong số các chữ cái được mở đầu cho một số chương Qur'an. Những chữ cái này chỉ là những mẫu tự, bản thân nó không mang nghĩa nếu như đứng một mình giống như mẫu tự a, b, c, v.v,. Tuy nhiên, các chữ cái được đề cập trong Qur'an mang một giá trị khác bởi vì trong Qur'an không có bất cứ điều gì lại không mang giá trị và ý nghĩa. Và một trong những giá trị và ý nghĩa của việc một số chương Qur'an được bắt đầu với những mẫu tự chữ cái là chỉ ra sự thách thức của Qur'an khi Nó được cấu tạo bởi những chữ cái riêng lẻ mà những người Ả Rập biết rõ chúng và dùng chúng tạo thành ngôn ngữ để nói chuyện với nhau. Chính vì lẽ này nên mỗi khi các chữ cái được nêu ra thì thường Kinh Qur'an được đề cập theo sau chẳng hạn như trong chương này.
التفاسير العربية:
ذَٰلِكَ ٱلۡكِتَٰبُ لَا رَيۡبَۛ فِيهِۛ هُدٗى لِّلۡمُتَّقِينَ
Đây là Kinh Qur'an thiêng liêng và vĩ đại, không có gì phải nghi ngờ về điều đó dù là từ phương diện mặc khải hay từ phương diện ngôn từ và ý nghĩa nội dung của Nó. Kinh Qur'an đích thực chính là lời phán của Allah hướng dẫn những người ngoan đạo tới con đường dẫn đến nơi Ngài.
التفاسير العربية:
ٱلَّذِينَ يُؤۡمِنُونَ بِٱلۡغَيۡبِ وَيُقِيمُونَ ٱلصَّلَوٰةَ وَمِمَّا رَزَقۡنَٰهُمۡ يُنفِقُونَ
3, 4 - Những điều vô hình là tất cả những gì mà con người không thể cảm nhận được bằng các giác quan, chúng bị che khuất khỏi sự cảm nhận của con người chúng ta, chúng là những gì được Allah hoặc Thiên Sứ của Ngài thông tin cho biết chẳng hạn như Ngày Sau. Những người ngoan đạo tức là những người có đức tin nơi những điều vô hình vừa nêu, chu đáo dâng lễ nguyện Salah theo đúng qui định của Allah và sự hướng dẫn của Thiên Sứ, chi dùng những gì được Allah ban phát cho con đường chính nghĩa của Ngài như thực thi nghĩa vụ xuất Zakah, làm Sadaqah để mong được ân phước, và có đức tin nơi những lời mặc khải được Allah ban xuống cho Thiên Sứ Muhammad cũng như nơi những gì được mặc khải xuống cho các vị Thiên Sứ và Nabi thời trước Người một cách không phân biệt. Họ là những người có đức tin kiên định nơi cõi Đời Sau và những gì được thưởng hoặc bị phạt ở nơi đó.
التفاسير العربية:
وَٱلَّذِينَ يُؤۡمِنُونَ بِمَآ أُنزِلَ إِلَيۡكَ وَمَآ أُنزِلَ مِن قَبۡلِكَ وَبِٱلۡأٓخِرَةِ هُمۡ يُوقِنُونَ
3, 4 - Những điều vô hình là tất cả những gì mà con người không thể cảm nhận được bằng các giác quan, chúng bị che khuất khỏi sự cảm nhận của con người chúng ta, chúng là những gì được Allah hoặc Thiên Sứ của Ngài thông tin cho biết chẳng hạn như Ngày Sau. Những người ngoan đạo tức là những người có đức tin nơi những điều vô hình vừa nêu, chu đáo dâng lễ nguyện Salah theo đúng qui định của Allah và sự hướng dẫn của Thiên Sứ, chi dùng những gì được Allah ban phát cho con đường chính nghĩa của Ngài như thực thi nghĩa vụ xuất Zakah, làm Sadaqah để mong được ân phước, và có đức tin nơi những lời mặc khải được Allah ban xuống cho Thiên Sứ Muhammad cũng như nơi những gì được mặc khải xuống cho các vị Thiên Sứ và Nabi thời trước Người một cách không phân biệt. Họ là những người có đức tin kiên định nơi cõi Đời Sau và những gì được thưởng hoặc bị phạt ở nơi đó.
التفاسير العربية:
أُوْلَـٰٓئِكَ عَلَىٰ هُدٗى مِّن رَّبِّهِمۡۖ وَأُوْلَـٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡمُفۡلِحُونَ
Những người được mô tả với những thuộc tính và đặc điểm kia thực sự là những người theo đúng con đường chính đạo, họ sẽ thành công trên cõi đời này và cõi Đời Sau, họ sẽ đạt được điều họ hy vọng và tránh được những gì họ sợ hãi.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• الثقة المطلقة في نفي الرَّيب دليل على أنه من عند الله؛ إذ لا يمكن لمخلوق أن يدعي ذلك في كلامه.
Phủ định mạnh mẽ và tuyệt đối về mọi sự ngờ vực là bằng chứng rằng nó đích thực đến từ nơi Allah bởi lẽ con người không thể tự xưng như thế trong lời nói của mình.

• لا ينتفع بما في القرآن الكريم من الهدايات العظيمة إلا المتقون لله تعالى المعظِّمون له.
Những chỉ đạo thiêng liêng trong Qur'an sẽ không mang lại lợi ích cho bất cứ ai ngoại trừ những người kính sợ Allah và tôn vinh Ngài.

• من أعظم مراتب الإيمانِ الإيمانُ بالغيب؛ لأنه يتضمن التسليم لله تعالى في كل ما تفرد بعلمه من الغيب، ولرسوله بما أخبر عنه سبحانه.
Một trong những niềm tin của đức tin Iman là tin nơi những điều vô hình bởi lẽ nó chứa đựng sự qui phục Allah về những điều nằm trong kiến thức của riêng Ngài cũng như những điều được Thiên Sứ của Ngài thông tin về Ngài.

• كثيرًا ما يقرن الله تعالى بين الصلاة والزكاة؛ لأنَّ الصلاة إخلاص للمعبود، والزكاة إحسان للعبيد، وهما عنوان السعادة والنجاة.
Allah thường nhấn mạnh rất nhiều về lễ nguyện Salah và nghĩa vụ xuất Zakah bởi vì lễ nguyện Salah thể hiện sự thành tâm trong thờ phượng Ngài còn Zakah thể hiện lòng tốt đối với đám bề tôi của Ngài, cả hai sẽ mang lại hạnh phúc và sự cứu rỗi.

• الإيمان بالله تعالى وعمل الصالحات يورثان الهداية والتوفيق في الدنيا، والفوز والفلاح في الأُخرى.
Đức tin nơi Allah đồng thời thi hành điều ngoan đạo và thiện tốt là kế thừa sự hướng dẫn, được thành công trên cõi trần và gặt hại được thành tựu ở cõi Đời Sau.


إِنَّ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ سَوَآءٌ عَلَيۡهِمۡ ءَأَنذَرۡتَهُمۡ أَمۡ لَمۡ تُنذِرۡهُمۡ لَا يُؤۡمِنُونَ
Quả thật, những người vô đức tin vẫn tiếp tục đi trên sự lầm lạc và sai trái của họ cho dù Thiên Sứ Muhammad có cảnh báo hay không cảnh báo họ.
التفاسير العربية:
خَتَمَ ٱللَّهُ عَلَىٰ قُلُوبِهِمۡ وَعَلَىٰ سَمۡعِهِمۡۖ وَعَلَىٰٓ أَبۡصَٰرِهِمۡ غِشَٰوَةٞۖ وَلَهُمۡ عَذَابٌ عَظِيمٞ
Bởi vì Allah đã niêm phong trái tim của họ nên trái tim của họ đóng kín lại giữ lấy những điều sai trái, Ngài niêm phong tai của họ nên tai của họ không nghe được điều chân lý, Ngài niêm phong đôi mắt của họ nên đôi mắt của họ không nhìn thấy được điều chân lý; và vào cõi Đời Sau họ sẽ phải chịu sự trừng phạt khủng khiếp.
التفاسير العربية:
وَمِنَ ٱلنَّاسِ مَن يَقُولُ ءَامَنَّا بِٱللَّهِ وَبِٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ وَمَا هُم بِمُؤۡمِنِينَ
Trong thiên hạ có nhóm người khẳng định họ là những người có đức tin, họ nói điều đó trên chiếc lưỡi của họ chỉ vì lo sợ cho tính mạng và tài sản của họ còn bên trong thì họ hoàn toàn là những kẻ vô đức tin.
التفاسير العربية:
يُخَٰدِعُونَ ٱللَّهَ وَٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَمَا يَخۡدَعُونَ إِلَّآ أَنفُسَهُمۡ وَمَا يَشۡعُرُونَ
Chúng lừa dối Allah và những người có đức tin bằng cách thể hiện đức tin ra ngoài và che giấu sự vô đức tin bên trong trái tim của chúng. Chúng tưởng chúng có thể lừa dối được Allah nhưng thực chất chúng chỉ đang lừa dối chính bản thân của chúng nhưng chúng khồng hề hay biết điều đó, bởi quả thật Allah là Đấng Am Tường mọi sự việc, Ngài biết tất cả mọi điều bí mật và thầm kín và Ngài đã phơi bày cho những người có đức tin các thuộc tính cũng như các tình huống giả tạo của họ.
التفاسير العربية:
فِي قُلُوبِهِم مَّرَضٞ فَزَادَهُمُ ٱللَّهُ مَرَضٗاۖ وَلَهُمۡ عَذَابٌ أَلِيمُۢ بِمَا كَانُواْ يَكۡذِبُونَ
Chứng bệnh của họ là chứng ngờ vực trong lòng, thế nên, Allah gia tăng chứng ngờ vực trong lòng họ nhiều hơn nữa để rồi họ sẽ phải chịu sự trừng phạt đau đớn ở tận đáy của Hỏa Ngục bởi vì họ đã dối gạt Allah và nhân loại, bởi vì họ đã phủ nhận những điều mà Thiên Sứ Muhammad mang đến.
التفاسير العربية:
وَإِذَا قِيلَ لَهُمۡ لَا تُفۡسِدُواْ فِي ٱلۡأَرۡضِ قَالُوٓاْ إِنَّمَا نَحۡنُ مُصۡلِحُونَ
Khi có người ngăn cản họ (những người Munafiq) làm điều thối nát trên trái đất bởi sự vô đức tin và hành vi tội lỗi của họ thì họ phản bác và khẳng định rằng họ mới chính là những người tốt đẹp, họ mới chính là những người cải thiện.
التفاسير العربية:
أَلَآ إِنَّهُمۡ هُمُ ٱلۡمُفۡسِدُونَ وَلَٰكِن لَّا يَشۡعُرُونَ
Họ không phải là những người cải thiện mà họ thực chất là những người phá hoại một cách thối tha nhưng họ không cảm thấy điều đó, họ không nhận ra hành động thối tha của họ.
التفاسير العربية:
وَإِذَا قِيلَ لَهُمۡ ءَامِنُواْ كَمَآ ءَامَنَ ٱلنَّاسُ قَالُوٓاْ أَنُؤۡمِنُ كَمَآ ءَامَنَ ٱلسُّفَهَآءُۗ أَلَآ إِنَّهُمۡ هُمُ ٱلسُّفَهَآءُ وَلَٰكِن لَّا يَعۡلَمُونَ
Khi họ được bảo hãy có đức tin giống như những người bạn đạo của Thiên Sứ Muhammad thì họ trả lời với giọng điệu châm biếm và chế giễu: chẳng lẽ chúng tôi lại đi tin giống như những kẻ ngu đần, khờ khạo ư? Nhưng thật ra họ mới là những kẻ ngu dần, khờ khạo mà bản thân không hay biết.
التفاسير العربية:
وَإِذَا لَقُواْ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ قَالُوٓاْ ءَامَنَّا وَإِذَا خَلَوۡاْ إِلَىٰ شَيَٰطِينِهِمۡ قَالُوٓاْ إِنَّا مَعَكُمۡ إِنَّمَا نَحۡنُ مُسۡتَهۡزِءُونَ
Khi những người Munafiq gặp những người có đức tin thì họ bảo: chúng tôi tin nơi những gì mà các người có đức tin. Họ nói như thế là vì họ sợ những người có đức tin. Nhưng khi họ rời đi khỏi những người có đức tin đến với những kẻ cầm đầu của họ thì họ lại khẳng định chắn chắn rằng họ chỉ đi theo những kẻ cầm đầu của họ, họ nói: Chúng tôi theo phe của quí ngài, chúng tôi thể hiện đồng cảm với những người có đức tin chỉ là bề ngoài thôi, chúng tôi đang đùa giỡn và chế nhạo họ đấy.
التفاسير العربية:
ٱللَّهُ يَسۡتَهۡزِئُ بِهِمۡ وَيَمُدُّهُمۡ فِي طُغۡيَٰنِهِمۡ يَعۡمَهُونَ
Allah chế giễu lại họ để đáp trả cho việc chế giễu của họ đối với những người có đức tin, một sự đáp trả tương thích với từng hành động, chính vì lẽ này Ngài đã qui định những giáo lý để những người Muslim đối xử với họ trên cõi trần này nhưng ở Đời Sau họ sẽ bị trừng phạt thích đáng cho sự vô đức tin và giả tạo của họ. Cùng với sự đáp trả bằng sự chế giễu thì Allah cũng buông thả họ tự do thể hiện sự lầm lạc và thái quá của họ mục đích để họ càng lún sâu vào tội lỗi.
التفاسير العربية:
أُوْلَـٰٓئِكَ ٱلَّذِينَ ٱشۡتَرَوُاْ ٱلضَّلَٰلَةَ بِٱلۡهُدَىٰ فَمَا رَبِحَت تِّجَٰرَتُهُمۡ وَمَا كَانُواْ مُهۡتَدِينَ
Những kẻ Munafiq là những kẻ ngu đần bởi vì họ đã lấy sự vô đức tin để đối với đức tin nên cuộc đổi chác đó của họ không những không thu được lợi nhuận nào cho họ vì họ đã bị lỗ mất đức tin nơi Allah mà còn không được hướng dẫn đến với con đường đúng đắn và chân lý.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أن من طبع الله على قلوبهم بسبب عنادهم وتكذيبهم لا تنفع معهم الآيات وإن عظمت.
Những kẻ bị Allah đóng dấu niêm phong trái tim của họ do sự ương ngạnh và bất tín của họ thì những lời Kinh sẽ không mang lại ích lợi gì cho họ cho dù những lời Kinh có thiêng liêng và giá trị đến nhường nào.

• أن إمهال الله تعالى للظالمين المكذبين لم يكن عن غفلة أو عجز عنهم، بل ليزدادوا إثمًا، فتكون عقوبتهم أعظم.
Việc Allah Tối Cao buông thả cho những người làm điều sai quấy vô đức tin không phải là vì Ngài không hay biết hoặc Ngài bất lực đối với họ mà là vì Ngài muốn gia tăng tội lỗi cho họ để hình phạt dành cho họ to lớn hơn và nặng hơn.


مَثَلُهُمۡ كَمَثَلِ ٱلَّذِي ٱسۡتَوۡقَدَ نَارٗا فَلَمَّآ أَضَآءَتۡ مَا حَوۡلَهُۥ ذَهَبَ ٱللَّهُ بِنُورِهِمۡ وَتَرَكَهُمۡ فِي ظُلُمَٰتٖ لَّا يُبۡصِرُونَ
Allah đưa ra một hình ảnh thí dụ về những người Munafiq này qua hai hình ảnh: hình ảnh của lửa và hình ảnh của nước. Thí dụ về lửa thì Ngài ví hình ảnh của họ giống như hình ảnh của nhóm người nhúm lên ngọn lửa để lấy ánh sáng, khi ngọn lửa được nhúm lên tỏa sáng xung quanh thì họ cứ tưởng ánh sáng đó sẽ soi rõ con đường cho họ thế nhưng Allah lấy mất đi ánh sáng mà chỉ chừa lại cho họ cái nóng nên họ phải ở trong bóng tối mịt mù không nhìn thấy gì cả và cũng không được hướng dẫn bất cứ con đường nào.
التفاسير العربية:
صُمُّۢ بُكۡمٌ عُمۡيٞ فَهُمۡ لَا يَرۡجِعُونَ
Chúng điếc nên không nghe được điều chân lý, chúng câm nên không thể nói điều chân lý và chúng mù nên không nhìn thấy điều chân lý, bởi thế, chúng không thể quay về với Chính đạo từ sự lầm lạc của chúng.
التفاسير العربية:
أَوۡ كَصَيِّبٖ مِّنَ ٱلسَّمَآءِ فِيهِ ظُلُمَٰتٞ وَرَعۡدٞ وَبَرۡقٞ يَجۡعَلُونَ أَصَٰبِعَهُمۡ فِيٓ ءَاذَانِهِم مِّنَ ٱلصَّوَٰعِقِ حَذَرَ ٱلۡمَوۡتِۚ وَٱللَّهُ مُحِيطُۢ بِٱلۡكَٰفِرِينَ
Allah đưa ra hình ảnh thí dụ của họ với nước: hình ảnh của họ giống như hình ảnh của một nhóm người bị mắc kẹt trong một cơn mưa lớn do một đám mây chứa mưa khổng lồ, đám mây đó mang theo bóng tối, sấm sét và cả tia chớp; tiếng sấm sét nghe chát chúa điếng cả người nên họ lấy ngón tay bịt tai lại vì sợ chết; Allah sẽ bao vây những kẻ vô đức tin như thế bởi vì Ngài không bất lực trước một điều gì.
التفاسير العربية:
يَكَادُ ٱلۡبَرۡقُ يَخۡطَفُ أَبۡصَٰرَهُمۡۖ كُلَّمَآ أَضَآءَ لَهُم مَّشَوۡاْ فِيهِ وَإِذَآ أَظۡلَمَ عَلَيۡهِمۡ قَامُواْۚ وَلَوۡ شَآءَ ٱللَّهُ لَذَهَبَ بِسَمۡعِهِمۡ وَأَبۡصَٰرِهِمۡۚ إِنَّ ٱللَّهَ عَلَىٰ كُلِّ شَيۡءٖ قَدِيرٞ
Tia chớp gần như làm cho họ lóa mắt vì sự chói lòa, mỗi khi tia chớp lóe lên thì họ lần mò di chuyển từng bước khó khăn nhưng khi tia chớp biến mất thì trời lại tối mịt, lúc đó họ chỉ biết dừng lại đứng yên một chỗ, họ không thể di chuyển trong âm u tối tăm. Và nếu Allah muốn, Ngài có thể lấy đi thính giác và thị giác của họ với quyền năng vô song của Ngài và không hoàn trả lại cho họ vì tội ương ngạnh và chống đối điều chân lý của họ. Hình ảnh cơn mưa là Qur'an, hình ảnh tiếng sấm sét chát chúa là những trách cứ trong Qur'an, hình ảnh tia chớp là những điều chân lý đôi lúc được phơi bày cho họ, còn hình ảnh họ lấy ngón tay bịt tai lại là sự từ chối không chịu chấp nhận điều chân lý của Qur'an. Ý nghĩa những người Munafiq được ví như hai nhóm người trong hai hình ảnh: nhóm người nhúm lửa không thể hưởng ích lợi từ ngọn lửa mà họ đã nhúm, họ nhúm lửa lên nhưng họ không tìm thấy ánh sáng mà chỉ thấy sức nóng của lửa; còn nhóm người mắc kẹt trong mưa, cơn mưa được ban xuống mang lại phúc lành tuy nhiên họ lại không tìm thấy điều phúc lành nào cả, họ chỉ tìm thấy trong cơn mưa đó những sấm sét, sự âm u mù mịt và những tia chớp chói lòa, điều đó giống như những người Munafiq chỉ tìm thấy trong Islam sự khó khăn và khắc nghiệt.
التفاسير العربية:
يَـٰٓأَيُّهَا ٱلنَّاسُ ٱعۡبُدُواْ رَبَّكُمُ ٱلَّذِي خَلَقَكُمۡ وَٱلَّذِينَ مِن قَبۡلِكُمۡ لَعَلَّكُمۡ تَتَّقُونَ
Này hỡi nhân loại! Các ngươi hãy thờ phượng Thượng Đế của ngươi, hãy thờ phượng một mình Ngài, không thờ phượng ai khác ngoài Ngài bởi vì Ngài là Đấng đã tạo hóa các ngươi và đã tạo hóa các cộng đồng trước các ngươi, mong rằng các ngươi sợ Ngài mà tránh xa những điều Ngài nghiêm cấm và chấp hành những điều Ngài sai bảo để các ngươi được cứu rỗi khỏi hình phạt của Ngài.
التفاسير العربية:
ٱلَّذِي جَعَلَ لَكُمُ ٱلۡأَرۡضَ فِرَٰشٗا وَٱلسَّمَآءَ بِنَآءٗ وَأَنزَلَ مِنَ ٱلسَّمَآءِ مَآءٗ فَأَخۡرَجَ بِهِۦ مِنَ ٱلثَّمَرَٰتِ رِزۡقٗا لَّكُمۡۖ فَلَا تَجۡعَلُواْ لِلَّهِ أَندَادٗا وَأَنتُمۡ تَعۡلَمُونَ
Ngài (Allah) là Đấng đã tạo trái đất bằng phẳng cho các ngươi để các ngươi di chuyện và đi lại dễ dàng, đã tạo bầu trời như một mái che bên trên các ngươi, và Ngài đã ban bố ân huệ của Ngài cho các ngươi qua việc ban mưa xuống để làm mọc ra cây trái đủ loại thành nguồn thực phẩm cho các ngươi. Cho nên, các ngươi chớ đừng dựng lên cùng với Ngài những đấng ngang vai trong khi các ngươi thừa biết không có Đấng Tạo Hóa nào khác ngoài Ngài.
التفاسير العربية:
وَإِن كُنتُمۡ فِي رَيۡبٖ مِّمَّا نَزَّلۡنَا عَلَىٰ عَبۡدِنَا فَأۡتُواْ بِسُورَةٖ مِّن مِّثۡلِهِۦ وَٱدۡعُواْ شُهَدَآءَكُم مِّن دُونِ ٱللَّهِ إِن كُنتُمۡ صَٰدِقِينَ
Này hỡi nhân loại! Nếu các ngươi nghi ngờ những gì từ Qur'an được ban xuống cho người bề tôi của TA Muhammad thì TA thách thức các ngươi mang đến một chương giống như một chương của Qur'an thử xem, thậm chí chỉ cần giống như một chương ngắn nhất của Nó, và các ngươi được quyền gọi những ai mà các ngươi cho rằng chúng có quyền năng đến hỗ trợ các ngươi nếu các ngươi trung thực về những gì các ngươi hô hào.
التفاسير العربية:
فَإِن لَّمۡ تَفۡعَلُواْ وَلَن تَفۡعَلُواْ فَٱتَّقُواْ ٱلنَّارَ ٱلَّتِي وَقُودُهَا ٱلنَّاسُ وَٱلۡحِجَارَةُۖ أُعِدَّتۡ لِلۡكَٰفِرِينَ
Nhưng nếu các ngươi không làm dược theo lời thách thức đó và TA khẳng định chắc chắn các ngươi sẽ không bao giờ làm được cho dù các ngươi có cố gắng thế nào thì các ngươi hãy sợ Hỏa Ngục nơi mà trong đó chất đốt toàn là con người và đá từ những bục tượng mà chúng từng được thờ phượng. Và Hỏa Ngục là nơi được chuẩn bị để chào đón những kẻ vô đức tin.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أن الله تعالى يخذل المنافقين في أشد أحوالهم حاجة وأكثرها شدة؛ جزاء نفاقهم وإعراضهم عن الهدى.
Allah, Đấng Tối Cao làm thất vọng những kẻ Munafiq trong điều kiện tồi tệ nhất, một phần thưởng tương thích cho sự giả tạo và phủ nhận nguồn Chỉ Đạo của bọn chúng.

• من أعظم الأدلة على وجوب إفراد الله بالعبادة أنه تعالى هو الذي خلق لنا ما في الكون وجعله مسخَّرًا لنا.
Một trong những bằng chứng bắt buộc phải thờ phượng riêng một mình Allah rằng Ngài chính là Đấng đã tạo hóa cho con người chúng ta vũ trụ này và Ngài đã chi phối nó cho chúng ta.

• عجز الخلق عن الإتيان بمثل سورة من القرآن الكريم يدل على أنه تنزيل من حكيم عليم.
Việc con người bất lực trước thách thức làm ra một chương kinh giống như chương Kinh của Qur'an là bằng chứng chứng minh Qur'an đích thực được ban xuống từ Đấng Chí Minh, Thông Lãm.


وَبَشِّرِ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَعَمِلُواْ ٱلصَّـٰلِحَٰتِ أَنَّ لَهُمۡ جَنَّـٰتٖ تَجۡرِي مِن تَحۡتِهَا ٱلۡأَنۡهَٰرُۖ كُلَّمَا رُزِقُواْ مِنۡهَا مِن ثَمَرَةٖ رِّزۡقٗا قَالُواْ هَٰذَا ٱلَّذِي رُزِقۡنَا مِن قَبۡلُۖ وَأُتُواْ بِهِۦ مُتَشَٰبِهٗاۖ وَلَهُمۡ فِيهَآ أَزۡوَٰجٞ مُّطَهَّرَةٞۖ وَهُمۡ فِيهَا خَٰلِدُونَ
Trước đó, Allah đã cảnh báo những người vô đức tin thì giờ đây Ngài ra lệnh cho Thiên Sứ Muhammad báo tin vui đến những ai có đức tin và năng hành thiện về phần thưởng mà Ngài đã chuẩn bị cho họ. Đó là những ngôi vườn nơi Thiên Đàng bên dưới có các dòng sông chảy. Ở nơi đó, mỗi lần họ được ban cho thức ăn từ những loại trái quả ngon lành thì họ nói những trái quả này giống như những trái quả của cõi trần gian mà họ đã từng ăn do hình dáng có sự tương đồng. Allah tiếp đãi họ với những loại trái cây có hình dáng và tên gọi giống như những loại trái cây mà họ đã từng biết ở cõi trần mục đích chỉ để họ khỏi bỡ ngỡ chứ thực chất những trái quả ở những ngôi vườn nơi Thiên Đàng hoàn toàn khác về chất lượng hương vị và ngon lành. Trong Thiên Đàng, họ còn được ban cho những người vợ thanh khiết chưa từng có một ai va chạm. Và sự hưởng thụ khoái lạc nơi Thiên Đàng là bất tận, là vô hạn còn sự hưởng thụ khoái lạc nơi cõi trần chỉ là hữu hạn và ngắn ngủi.
التفاسير العربية:
۞إِنَّ ٱللَّهَ لَا يَسۡتَحۡيِۦٓ أَن يَضۡرِبَ مَثَلٗا مَّا بَعُوضَةٗ فَمَا فَوۡقَهَاۚ فَأَمَّا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ فَيَعۡلَمُونَ أَنَّهُ ٱلۡحَقُّ مِن رَّبِّهِمۡۖ وَأَمَّا ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ فَيَقُولُونَ مَاذَآ أَرَادَ ٱللَّهُ بِهَٰذَا مَثَلٗاۘ يُضِلُّ بِهِۦ كَثِيرٗا وَيَهۡدِي بِهِۦ كَثِيرٗاۚ وَمَا يُضِلُّ بِهِۦٓ إِلَّا ٱلۡفَٰسِقِينَ
Quả thật, Allah Tối Cao và Toàn Năng không hề cảm thấy e thẹn và ngượng ngùng từ những hình ảnh thí dụ mà Ngài đưa ra, dù cho Ngài đưa ra hình ảnh của con muỗi hay những con vật lớn hơn hoặc nhỏ hơn để làm thí dụ thì nó luôn là điều chân lý và đầy giá trị. Và nhân loại trước những hình ảnh thí dụ của Ngài có hại nhóm: một nhóm có đức tin và một nhóm vô đức tin. Đối với nhóm có đức tin thì họ luôn tin và biết rằng những hình ảnh thí dụ mà Ngài đưa ra đều ẩn chứa ý nghĩa và giá trị thiêng liêng, riêng nhóm người vô đức tin thì lại hỏi nhau một cách giễu cợt đầy châm biếm về những hình ảnh thí dụ mà Ngài đưa ra, họ bảo nhau rằng Allah muốn ngụ ý điều gì khi mà Ngài lại đem những con vật tầm thường như muỗi, ruồi, nhện và những con vật thấp hèn khác làm hình ảnh thí dụ. Allah trả lời cho câu hỏi của họ rằng những hình ảnh thí dụ đó là để làm nguồn chỉ đạo, hướng dẫn và thử thách nhân loại; với những hình ảnh thí dụ đó, có những người bị Ngài làm cho lạc lối vì họ không chịu tiếp nhận và suy ngẫm nó và nhóm người này thì rất nhiều; tuy nhiên, có những người được hướng dẫn và soi sáng bởi những hình ảnh thí dụ này của Ngài và họ cũng đông người không kém. Và Allah khẳng định rằng những hình ảnh thí dụ mà Ngài đưa ra mục đích không để làm lạc lối một ai trong đám bề tôi của Ngài trừ những kẻ bất tuân và đi quá giới hạn của Ngài như những người Munafiq chẳng hạn.
التفاسير العربية:
ٱلَّذِينَ يَنقُضُونَ عَهۡدَ ٱللَّهِ مِنۢ بَعۡدِ مِيثَٰقِهِۦ وَيَقۡطَعُونَ مَآ أَمَرَ ٱللَّهُ بِهِۦٓ أَن يُوصَلَ وَيُفۡسِدُونَ فِي ٱلۡأَرۡضِۚ أُوْلَـٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡخَٰسِرُونَ
Giao Ước của Allah chính là con người phải có nghĩa vụ và bổn phận thờ phượng một mình Ngài và đi theo sự chỉ đạo của vị Thiên Sứ của Ngài, vị Thiên Sứ mà Người đã được các vị Thiên Sứ trước Người báo trước về sự xuất hiện của Người. Những ai vi phạm Giao Ước này của Ngài thì họ được mô tả là những người cắt đứt những gì mà Ngài đã ra lệnh phải duy trì như phải duy trì mối quan hệ máu mủ ruột thịt và họ chính là những kẻ gieo rắc sự thối tha trên trái đất bởi những tội lỗi của họ. Và họ chính là những người mất mát phần phước của mình trên cõi trần và cõi Đời Sau.
التفاسير العربية:
كَيۡفَ تَكۡفُرُونَ بِٱللَّهِ وَكُنتُمۡ أَمۡوَٰتٗا فَأَحۡيَٰكُمۡۖ ثُمَّ يُمِيتُكُمۡ ثُمَّ يُحۡيِيكُمۡ ثُمَّ إِلَيۡهِ تُرۡجَعُونَ
Quả thật, sự việc của các ngươi - hỡi những kẻ vô đức tin - thật kỳ lạ! Sao các ngươi lại phủ nhận Allah trong khi các ngươi chứng kiến các bằng chứng rõ ràng về quyền năng của Ngài nơi bản thân các ngươi. Từ cõi hư vô khi các ngươi không là cái gì thì Ngài đã tạo hóa các ngươi và ban cho các ngươi sự sống, rồi Ngài làm cho các ngươi chết đi, sau đó từ cõi chết đó Ngài làm cho các ngươi sống lại lần thứ hai (Phục Sinh) để Ngài xét xử và thưởng phạt các ngươi tương ứng với những gì các ngươi đã làm.
التفاسير العربية:
هُوَ ٱلَّذِي خَلَقَ لَكُم مَّا فِي ٱلۡأَرۡضِ جَمِيعٗا ثُمَّ ٱسۡتَوَىٰٓ إِلَى ٱلسَّمَآءِ فَسَوَّىٰهُنَّ سَبۡعَ سَمَٰوَٰتٖۚ وَهُوَ بِكُلِّ شَيۡءٍ عَلِيمٞ
Allah là Đấng Duy Nhất đã tạo ra cho các ngươi mọi vật ở trái đất từ sông, núi, cây cối và vô số những thứ khác để các ngươi sử dụng và hưởng lợi. Sau đó, Ngài hướng về bầu trời và tạo chúng thành bảy tầng trời và Ngài là Đấng bao quát tất cả mọi vật bằng kiến thức vô hạn của Ngài.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• من كمال النعيم في الجنة أن ملذاتها لا يكدرها أي نوع من التنغيص، ولا يخالطها أي أذى.
Một trong những sự hoàn hảo của niềm hạnh phúc nơi Thiên Đàng là sự hưởng lạc tuyệt đối không hề có bất cứ sự phiền toái nào.

• الأمثال التي يضربها الله تعالى لا ينتفع بها إلا المؤمنون؛ لأنهم هم الذين يريدون الهداية بصدق، ويطلبونها بحق.
Những hình ảnh thí dụ mà Allah, Đấng Tối Cao và Ân Phúc đưa ra chỉ hướng dẫn những người có đức tin bởi vì họ là những người thực sự mong muốn nguồn hướng dẫn.

• من أبرز صفات الفاسقين نقضُ عهودهم مع الله ومع الخلق، وقطعُهُم لما أمر الله بوصله، وسعيُهُم بالفساد في الأرض.
Một trong những thuộc tính thối tha của những kẻ vô đức tin là họ đã vi phạm Giao Ước đối với Allah và đối với tạo vật của Ngài, họ cắt đứt những gì mà Ngài ra lệnh phải duy trì và luôn hành động phá hoại trên trái đất.

• الأصل في الأشياء الإباحة والطهارة؛ لأن الله تعالى امتنَّ على عباده بأن خلق لهم كل ما في الأرض.
Nguồn gốc của mọi thứ đều halal (được phép) và thanh sạch bởi vì Allah đã tạo ra cho họ tất cả mọi vật trên trái đất để họ sử dụng và hưởng lợi.


وَإِذۡ قَالَ رَبُّكَ لِلۡمَلَـٰٓئِكَةِ إِنِّي جَاعِلٞ فِي ٱلۡأَرۡضِ خَلِيفَةٗۖ قَالُوٓاْ أَتَجۡعَلُ فِيهَا مَن يُفۡسِدُ فِيهَا وَيَسۡفِكُ ٱلدِّمَآءَ وَنَحۡنُ نُسَبِّحُ بِحَمۡدِكَ وَنُقَدِّسُ لَكَۖ قَالَ إِنِّيٓ أَعۡلَمُ مَا لَا تَعۡلَمُونَ
Allah, Đấng Tối Cao cho biết rằng Ngài đã phán với các Thiên Thần của Ngài rằng Ngài sẽ tạo ra loài người trên trái đất để họ đại diện Ngài trông coi và quản lý lẫn nhau và để họ xây dựng cuộc sống của họ trên trái đất trong phạm vị mệnh lệnh của Ngài. Các Thiên Thần khi được Ngài phán về quyết định đó của Ngài thì họ đã hỏi Ngài với mong muốn được sự giảng giải những khúc mắc mà họ chưa hiểu về giá trị cũng như ý nghĩa của việc Ngài tạo ra con người để họ làm đại diện của Ngài trên trái đất. Các Thiên Thần nghĩ rằng con người sẽ chỉ làm điều thối nát và làm đổ máu trên trái đất trong khi họ luôn phục tùng Ngài, luôn ca ngợi và tán dương Ngài và lúc nào cũng tôn vinh sự Tối Cao và Hoàn Mỹ của Ngài, họ lúc nào cũng tuyệt đối chấp hành và thực thi mệnh lệnh và ý chỉ của Ngài thì Ngài cần chi phải tạo ra con người làm gì nữa. Thế là Allah trả lời thắc mắc của họ rằng Ngài biết những điều họ không biết, Ngài biết ý nghĩa và giá trị của việc tạo ra con người nhưng họ không biết.
التفاسير العربية:
وَعَلَّمَ ءَادَمَ ٱلۡأَسۡمَآءَ كُلَّهَا ثُمَّ عَرَضَهُمۡ عَلَى ٱلۡمَلَـٰٓئِكَةِ فَقَالَ أَنۢبِـُٔونِي بِأَسۡمَآءِ هَـٰٓؤُلَآءِ إِن كُنتُمۡ صَٰدِقِينَ
Allah đã cho biết về vai trò của Nabi Adam khi Ngài đã dạy cho Người biết hết tất cả tên gọi của vạn vật từ động vật, thực vật cho đến các vật vô tri vô giác; Ngài đã dạy Người ngôn từ và ý nghĩa. Sau đó, Ngài phơi bày vạn vật mà Ngài đã dạy Adam tên gọi của chúng cho các Thiên Thần và yêu cầu họ cho biết tên của chúng nếu như họ chân thật với những điều họ nói rằng họ tốt và cao quý hơn Adam.
التفاسير العربية:
قَالُواْ سُبۡحَٰنَكَ لَا عِلۡمَ لَنَآ إِلَّا مَا عَلَّمۡتَنَآۖ إِنَّكَ أَنتَ ٱلۡعَلِيمُ ٱلۡحَكِيمُ
Các Thiên Thần thừa nhận sự yếu kém và hèn mọn của mình trước Allah, họ nói: bầy tôi vinh quang Ngài thưa Thượng Đế của bầy tôi và xin thần phục trước sự sáng suốt và sắc lệnh của Ngài, bầy tôi không biết một thứ gì ngoại trừ điều mà Ngài đã dạy, quả thật Ngài là Đấng Hằng Biết, không có điều gì che giấu được Ngài, Ngài là Đấng Sáng Suốt và Anh Minh mỗi khi sắp đặt và an bài một điều nào đó.
التفاسير العربية:
قَالَ يَـٰٓـَٔادَمُ أَنۢبِئۡهُم بِأَسۡمَآئِهِمۡۖ فَلَمَّآ أَنۢبَأَهُم بِأَسۡمَآئِهِمۡ قَالَ أَلَمۡ أَقُل لَّكُمۡ إِنِّيٓ أَعۡلَمُ غَيۡبَ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِ وَأَعۡلَمُ مَا تُبۡدُونَ وَمَا كُنتُمۡ تَكۡتُمُونَ
Lúc đó, Allah phán bảo Adam: ngươi hãy cho Họ (các Thiên Thần) biết các tên gọi của chúng (vạn vật). Rồi khi Adam nói cho họ biết những gì mà Allah đã dạy Người thì Allah phán với các Thiên Thần: chẳng phải TA đã không nói với các ngươi rằng TA biết hết tất cả mọi thứ trong các tầng trời và trái đất và TA biết tất cả những gì mà các ngươi tiết lộ ra ngoài hay giấu kín trong lòng từ lời nói, hành đồng và suy nghĩ?.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ قُلۡنَا لِلۡمَلَـٰٓئِكَةِ ٱسۡجُدُواْ لِأٓدَمَ فَسَجَدُوٓاْ إِلَّآ إِبۡلِيسَ أَبَىٰ وَٱسۡتَكۡبَرَ وَكَانَ مِنَ ٱلۡكَٰفِرِينَ
Allah cho biết rằng Ngài đã ra lệnh cho các Thiên Thần quì phủ phục trước Adam mang tính chất tôn kính và nể trọng. Thế là các Thiên Thần phụng mệnh Ngài liền quì xuống phủ phục trừ Iblis thuộc loại Jinn, hắn không chịu thực thi theo mệnh lệnh của Ngài, hắn từ chối phủ phục trước Adam vì sự tự cao tự đại của hắn trước Người. Với hành động bất tuân đó, hắn đã trở thành một kẻ phản nghịch nơi Allah.
التفاسير العربية:
وَقُلۡنَا يَـٰٓـَٔادَمُ ٱسۡكُنۡ أَنتَ وَزَوۡجُكَ ٱلۡجَنَّةَ وَكُلَا مِنۡهَا رَغَدًا حَيۡثُ شِئۡتُمَا وَلَا تَقۡرَبَا هَٰذِهِ ٱلشَّجَرَةَ فَتَكُونَا مِنَ ٱلظَّـٰلِمِينَ
Allah phán với Adam rằng Người và vợ của Người - Hauwa - cứ sống trong Thiên Đàng và ăn trái quả trong đó tùy thích nhưng Ngài lưu ý họ không được đến gần một cái cây, Ngài không cho họ ăn trái của cây đó, vì nếu họ ăn trái của nó thì họ sẽ trở thành những người làm điều sai quấy và nghịch lại mệnh lệnh của Ngài.
التفاسير العربية:
فَأَزَلَّهُمَا ٱلشَّيۡطَٰنُ عَنۡهَا فَأَخۡرَجَهُمَا مِمَّا كَانَا فِيهِۖ وَقُلۡنَا ٱهۡبِطُواْ بَعۡضُكُمۡ لِبَعۡضٍ عَدُوّٞۖ وَلَكُمۡ فِي ٱلۡأَرۡضِ مُسۡتَقَرّٞ وَمَتَٰعٌ إِلَىٰ حِينٖ
Shaytan đã cám dỗ Adam và vợ của Người với lời lẽ ngon ngọt, hắn đã làm cho hai người họ phạm vào điều cấm của Allah khi ăn trái của cây mà Ngài đã cấm. Cho nên, hình phạt cho hành động trái lệnh của họ là bị trục xuất khỏi một cuộc sống hạnh phúc mà họ đã từng hưởng thụ. Allah phán với hai người họ và Shaytan (Iblis): các ngươi hãy đi xuống trái đất, người này sẽ là kẻ thù của người kia, các ngươi sẽ sống dưới đó và hưởng những gì tốt đẹp từ dưới đó cho đến khi thời hạn kết thúc (tuổi đời) và đến khi tận thế.
التفاسير العربية:
فَتَلَقَّىٰٓ ءَادَمُ مِن رَّبِّهِۦ كَلِمَٰتٖ فَتَابَ عَلَيۡهِۚ إِنَّهُۥ هُوَ ٱلتَّوَّابُ ٱلرَّحِيمُ
Nabi Adam nhận lấy lời dạy từ nơi Allah khi Ngài mặc khải cho Người, đó là lời cầu nguyện xin Ngài tha thứ, nó được nói trong chương 7 - Al-A'raf, câu 23 với ý nghĩa rằng lạy Thượng Đế của bầy tôi, bầy tôi đã tự hại bản thân mình, nếu Ngài không tha thứ và thương xót bầy tôi thì chắc chắn bầy tôi sẽ trở thành những kẻ thua thiệt và thất bại. Adam đã cầu nguyện Allah với lời cầu nguyện đó và được Ngài chấp nhận, Ngài đã chấp nhận sự sám hối của Người và tha thứ cho Người bởi vì Ngài là Đấng luôn đón nhận sứ sám hối của bầy tôi và bởi vì Ngài là Đấng Rất Mực Nhân Từ.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• الواجب على المؤمن إذا خفيت عليه حكمة الله في بعض خلقه وأَمْرِهِ أن يسلِّم لله في خلقه وأَمْرِهِ.
Khi gặp phải một vấn đề nào đó hoặc một sự vật nào đó mà không hiểu được giá trị ngụ ý của Allah thì người có đức tin cũng phải có bổn phận thần phục Ngài.

• رَفَعَ القرآن الكريم منزلة العلم، وجعله سببًا للتفضيل بين الخلق.
Qur'an nâng cao địa vị của nguồn kiến thức và Nó lấy kiến thức làm nguyên nhân phân biệt giữa con người với nhau.

• الكِبْرُ هو رأس المعاصي، وأساس كل بلاء ينزل بالخلق، وهو أول معصية عُصِيَ الله بها.
Sự tự cao tự đại là đầu não của sự phản nghịch và trái lệnh, là căn nguyên của mọi tai họa mà Allah giáng xuống con người, và là điều phản nghịch đầu tiên trong các điều phản nghịch Allah.


قُلۡنَا ٱهۡبِطُواْ مِنۡهَا جَمِيعٗاۖ فَإِمَّا يَأۡتِيَنَّكُم مِّنِّي هُدٗى فَمَن تَبِعَ هُدَايَ فَلَا خَوۡفٌ عَلَيۡهِمۡ وَلَا هُمۡ يَحۡزَنُونَ
TA tức Allah phán với họ: tất cả các ngươi hãy rời Thiên Đàng đi xuống trái đất, nếu nguồn Chỉ Đạo của TA được mang đến cho các ngươi bởi các vị Thiên Sứ của TA, ai đi theo nguồn Chỉ Đạo đó, tin các vị Thiên Sứ của TA thì họ sẽ không lo sợ ở cõi Đời Sau và sẽ không buồn phiền về những gì mất mát trên cõi trần.
التفاسير العربية:
وَٱلَّذِينَ كَفَرُواْ وَكَذَّبُواْ بِـَٔايَٰتِنَآ أُوْلَـٰٓئِكَ أَصۡحَٰبُ ٱلنَّارِۖ هُمۡ فِيهَا خَٰلِدُونَ
Riêng đối với những ai không có đức tin nơi những Lời Mặc Khải của Allah và cho rằng những lời Mặc Khải của Ngài là ngụy tạo thì họ sẽ là những người đời đời kiếp kiếp sống trong Hỏa Ngục.
التفاسير العربية:
يَٰبَنِيٓ إِسۡرَـٰٓءِيلَ ٱذۡكُرُواْ نِعۡمَتِيَ ٱلَّتِيٓ أَنۡعَمۡتُ عَلَيۡكُمۡ وَأَوۡفُواْ بِعَهۡدِيٓ أُوفِ بِعَهۡدِكُمۡ وَإِيَّـٰيَ فَٱرۡهَبُونِ
Này hỡi người dân Isra-el tức con cháu của Y'aqub (Jacob) - vị Nabi của Allah, các ngươi hãy nhớ lại Ân Huệ của Allah đã ban bố cho các ngươi mà tạ ơn Ngài; các ngươi hãy thực hiện giao ước của các ngươi với Ngài, đó là các ngươi tin nơi Ngài và nơi các vị Thiên Sứ của Ngài đồng thời chấp hành và tuân thủ theo giáo luật của Ngài, nếu các ngươi thực hiện giao ước đó thì Ngài sẽ thực hiện giao ước của Ngài với các ngươi, đó là Ngài sẽ ban cho các ngươi cuộc sống tốt lành nơi cõi trần và sẽ ban thưởng cho các ngươi điều tốt đẹp ở cõi Đời Sau; và các ngươi hãy sợ riêng một mình Ngài chớ đừng vi phạm giao ước của các ngươi đối với Ngài.
التفاسير العربية:
وَءَامِنُواْ بِمَآ أَنزَلۡتُ مُصَدِّقٗا لِّمَا مَعَكُمۡ وَلَا تَكُونُوٓاْ أَوَّلَ كَافِرِۭ بِهِۦۖ وَلَا تَشۡتَرُواْ بِـَٔايَٰتِي ثَمَنٗا قَلِيلٗا وَإِيَّـٰيَ فَٱتَّقُونِ
Các ngươi hãy tin nơi Qur'an được TA ban xuống cho Muhammad. Kinh Qur'an mang giáo lý Tawhid (tôn thờ một mình Allah) cũng như thông tin về sứ mạng Nabi của Muhammad tương đồng với những gì được nói trong Kinh Tawrah trước khi Kinh Tawrah bị bóp méo và sửa đổi. Các ngươi hãy coi chừng đừng để mình là nhóm người đầu tiên phủ nhận Kinh Qur'an của Ngài, và các ngươi chớ lấy những lời Mặc Khải của Ngài đổi chác với cái giá rẻ mạt và ít ỏi từ bổng lộc, chức quyền của thế gian. Các ngươi hãy sợ cơn thịnh nộ và sự trừng phạt của Ngài.
التفاسير العربية:
وَلَا تَلۡبِسُواْ ٱلۡحَقَّ بِٱلۡبَٰطِلِ وَتَكۡتُمُواْ ٱلۡحَقَّ وَأَنتُمۡ تَعۡلَمُونَ
Các ngươi chớ đừng lấy điều chân lý mà TA đã ban xuống cho các vị Thiên Sứ của TA pha trộn với những điều dối trá và ngụy tạo, và các ngươi chớ che giấu sự thật được nói trong các Kinh Sách của các ngươi về Muhammad trong khi các ngươi biết rõ đó là sự thật.
التفاسير العربية:
وَأَقِيمُواْ ٱلصَّلَوٰةَ وَءَاتُواْ ٱلزَّكَوٰةَ وَٱرۡكَعُواْ مَعَ ٱلرَّـٰكِعِينَ
Và các ngươi hãy thực hiện và duy trì lễ nguyện Salah một cách chu đáo qua các nghi thức Rukun (trụ cột), các nghi thức Wajib (bắt buộc) và các nghi thức Sunnah (khuyến khích) của nó; các ngươi hãy đóng Zakah tức các ngươi hãy trích một phần từ nguồn tài sản mà Allah đã ban cho các ngươi để phân phát cho người nghèo và khó khăn; và các ngươi hãy hạ mình kính cẩn trước Allah cùng với những người hạ mình kính cẩn trước Allah trong đám tín đồ của Muhammad.
التفاسير العربية:
۞أَتَأۡمُرُونَ ٱلنَّاسَ بِٱلۡبِرِّ وَتَنسَوۡنَ أَنفُسَكُمۡ وَأَنتُمۡ تَتۡلُونَ ٱلۡكِتَٰبَۚ أَفَلَا تَعۡقِلُونَ
Thật là điều tồi tệ và xấu xa cho việc các ngươi bảo ban người khác tin và hành thiện nhưng bản thân các ngươi lại không làm trong khi các ngươi là những người đọc hiểu Kinh Tawrah và biết rõ điều lệnh trong đó, chẳng lẽ các ngươi không hiểu gì cả hay sao?
التفاسير العربية:
وَٱسۡتَعِينُواْ بِٱلصَّبۡرِ وَٱلصَّلَوٰةِۚ وَإِنَّهَا لَكَبِيرَةٌ إِلَّا عَلَى ٱلۡخَٰشِعِينَ
Các ngươi hãy cầu xin sự phù hộ nơi Allah trong mọi hoàn cảnh và trong mọi vụ việc của đời và đạo bằng lòng kiên nhẫn và lễ nguyện Salah. Lễ nguyện Salah là cái giúp các ngươi đến gần Allah và giữ vững sự kết nối giữa các ngươi với Ngài, nó sẽ bảo vệ các ngươi khỏi những việc làm tội lỗi; tuy nhiên, lễ nguyện Salah sẽ là điều khó khăn và nặng nề rất lớn ngoại trừ những ai hạ mình sợ Thượng Đế của họ.
التفاسير العربية:
ٱلَّذِينَ يَظُنُّونَ أَنَّهُم مُّلَٰقُواْ رَبِّهِمۡ وَأَنَّهُمۡ إِلَيۡهِ رَٰجِعُونَ
Những người sợ Allah là những ai luôn kiên định rằng họ sẽ gặp Ngài để trình diện trước Ngài vào Ngày Phán Xét và họ chắc chắn phải quay trở lại với Ngài trong sớm muộn để Ngài thưởng phạt cho các việc làm của họ.
التفاسير العربية:
يَٰبَنِيٓ إِسۡرَـٰٓءِيلَ ٱذۡكُرُواْ نِعۡمَتِيَ ٱلَّتِيٓ أَنۡعَمۡتُ عَلَيۡكُمۡ وَأَنِّي فَضَّلۡتُكُمۡ عَلَى ٱلۡعَٰلَمِينَ
Hỡi con cháu của Y'aqub (Jacob)! Các ngươi hãy nhớ lại các Ân Huệ mà Allah đã ban cho các ngươi cũng như những gì mà Ngài đã ưu đãi các ngươi hơn hẳn những nhóm người khác trong nhân loại từ sứ mạng Nabi, vương quyền và ưu đãi đặc biệt khác.
التفاسير العربية:
وَٱتَّقُواْ يَوۡمٗا لَّا تَجۡزِي نَفۡسٌ عَن نَّفۡسٖ شَيۡـٔٗا وَلَا يُقۡبَلُ مِنۡهَا شَفَٰعَةٞ وَلَا يُؤۡخَذُ مِنۡهَا عَدۡلٞ وَلَا هُمۡ يُنصَرُونَ
Các ngươi hãy đặt giữa các ngươi với sự trừng phạt của Ngày Phán Xét một vách chắn bằng sự chấp hành các mệnh lệnh của Allah và từ bỏ những điều cấm của Ngài. Vào Ngày đó, không có linh hồn nào có khả năng giúp ích và can thiệp cho linh hồn khác, không ai có quyền can thiệp cho ai ngoại trừ có phép của Allah, không ai được phép chuộc lỗi cho ai dù phải chuộc bằng cả điều tốt đẹp của một trái đất đi chăng nữa; vào Ngày hôm đó sẽ không có sự can thiệp, giúp ích, chuộc tội cho nhau thì linh hồn sẽ chạy trốn về đâu?!
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• من أعظم الخذلان أن يأمر الإنسان غيره بالبر، وينسى نفسه.
Một trong những thất bại tồi tệ nhất là bảo ban người khác làm điều thiện tốt và ngoan đạo nhưng lại quên mất bản thân mình.

• الصبر والصلاة من أعظم ما يعين العبد في شؤونه كلها.
Lòng kiên nhẫn và lễ nguyện Salah là trợ thủ đắc lực nhất cho người bề tôi trong tất cả mọi vụ việc của y.

• في يوم القيامة لا يَدْفَعُ العذابَ عن المرء الشفعاءُ ولا الفداءُ، ولا ينفعه إلا عمله الصالح.
Vào Ngày Phán Xét, một người sẽ không tránh khỏi sự trừng phạt bằng sự can thiệp hay sự chuộc tội giùm của ai đó mà bằng chính việc làm ngoan đạo và thiện tốt của y.


وَإِذۡ نَجَّيۡنَٰكُم مِّنۡ ءَالِ فِرۡعَوۡنَ يَسُومُونَكُمۡ سُوٓءَ ٱلۡعَذَابِ يُذَبِّحُونَ أَبۡنَآءَكُمۡ وَيَسۡتَحۡيُونَ نِسَآءَكُمۡۚ وَفِي ذَٰلِكُم بَلَآءٞ مِّن رَّبِّكُمۡ عَظِيمٞ
Hãy nhớ lại hỡi người dân Isra-el về việc TA đã cứu các ngươi thoát khỏi đám thuộc hạ của Fir-'awn khi chúng đàn áp các ngươi với nhiều loài đàn áp khác nhau: chúng tàn sát các con trai của ngươi đến mức tiệt diệt, chúng chừa lại phụ nữ của các ngươi để họ hầu hạ và phục dịch cho chúng; chúng làm thế như một sự hạ nhục dành cho các ngươi, và trong việc Ngài giải phóng các ngươi khỏi sự đàn áp tàn bạo của Fir-'awn và đám thuộc hạ của hắn là một sự thử thách lớn lao từ nơi Ngài và Ngài mong các ngươi biết tri ân Ngài.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ فَرَقۡنَا بِكُمُ ٱلۡبَحۡرَ فَأَنجَيۡنَٰكُمۡ وَأَغۡرَقۡنَآ ءَالَ فِرۡعَوۡنَ وَأَنتُمۡ تَنظُرُونَ
Các ngươi hãy nhớ lại hỡi người dân Isra-el về việc TA đã tách biển Hồng Hải ra tạo thành một con đường cho các ngươi băng qua để cứu các ngươi thoát khỏi sự truy sát của Fir-'awn và thuộc hạ của hắn, và TA đã nhận chìm chúng trước mặt các ngươi.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ وَٰعَدۡنَا مُوسَىٰٓ أَرۡبَعِينَ لَيۡلَةٗ ثُمَّ ٱتَّخَذۡتُمُ ٱلۡعِجۡلَ مِنۢ بَعۡدِهِۦ وَأَنتُمۡ ظَٰلِمُونَ
Các ngươi hãy nhớ lại hỡi người dân Isra-el lúc TA hẹn gặp Musa trong thời gian bốn mươi đêm để TA ban xuống Kinh Tawrah cho Y làm nguồn ánh sáng và chỉ đạo nhưng rồi trong thời gian vắng mặt của Y thì các ngươi lại đúc ra một con bò cái tơ và thờ cùng nó, quả thật hành động đó của các ngươi thật là sai quấy.
التفاسير العربية:
ثُمَّ عَفَوۡنَا عَنكُم مِّنۢ بَعۡدِ ذَٰلِكَ لَعَلَّكُمۡ تَشۡكُرُونَ
Sau khi các ngươi sám hối cho việc làm đó của các ngươi thì TA đã xí xóa và tha thứ cho các ngươi, TA đã không bắt tội các ngươi vì mong rằng các ngươi biết tri ân TA qua việc chu đáo thờ phượng và tuân lệnh TA.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ ءَاتَيۡنَا مُوسَى ٱلۡكِتَٰبَ وَٱلۡفُرۡقَانَ لَعَلَّكُمۡ تَهۡتَدُونَ
Các ngươi hãy nhớ lại một trong những ân huệ mà TA đã ban cho các ngươi, đó là TA đã ban cho Musa Kinh Tawrah và Chuẩn Mực Phân Biệt giữa chân lý và điều ngụy tạo, giữa điều phúc và điều tội lỗi, giữa sự hướng dẫn và lầm lạc; mong rằng các ngươi được nó hướng dẫn đúng đường.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ قَالَ مُوسَىٰ لِقَوۡمِهِۦ يَٰقَوۡمِ إِنَّكُمۡ ظَلَمۡتُمۡ أَنفُسَكُم بِٱتِّخَاذِكُمُ ٱلۡعِجۡلَ فَتُوبُوٓاْ إِلَىٰ بَارِئِكُمۡ فَٱقۡتُلُوٓاْ أَنفُسَكُمۡ ذَٰلِكُمۡ خَيۡرٞ لَّكُمۡ عِندَ بَارِئِكُمۡ فَتَابَ عَلَيۡكُمۡۚ إِنَّهُۥ هُوَ ٱلتَّوَّابُ ٱلرَّحِيمُ
Các ngươi hãy nhớ lại một trong các ân huệ mà TA ban cho các ngươi, đó là việc TA đã chấp nhận sự sám hối của các ngươi từ việc các ngươi thờ cúng con bò khi mà Musa nói với các ngươi: quả thật, các người đã tự làm hại bản thân mình qua việc nhận lấy con bò làm thượng đế để các ngươi thờ cùng nó, các ngươi hãy quay đầu sám hối với Đấng đã tạo hóa ra các ngươi bằng cách giết những kẻ tội lỗi trong các ngươi, sự sám hối theo cách này sẽ tốt cho các ngươi hơn việc các ngươi phải bị vĩnh viễn trong Hỏa Ngục, nếu các ngươi làm như thế thì Allah sẽ phù hộ cho các ngươi và tha thứ cho các ngươi bởi Ngài là Đấng Hằng Tha Thứ, Hằng Nhân Từ với đám bề tôi của Ngài.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ قُلۡتُمۡ يَٰمُوسَىٰ لَن نُّؤۡمِنَ لَكَ حَتَّىٰ نَرَى ٱللَّهَ جَهۡرَةٗ فَأَخَذَتۡكُمُ ٱلصَّـٰعِقَةُ وَأَنتُمۡ تَنظُرُونَ
Các ngươi hãy nhớ lại lúc cha mẹ của các ngươi, những kẻ sai quấy, nói với Musa một cách thách thức: chúng tôi sẽ không tin ngươi trừ phi chúng tôi tận mắt nhìn thấy Allah, Ngài phải hiện rõ công khai cho chúng tôi thấy. Thế là sét đã đánh họ trong lúc một số người trong bọn họ chỉ biết đưa mắt nhìn.
التفاسير العربية:
ثُمَّ بَعَثۡنَٰكُم مِّنۢ بَعۡدِ مَوۡتِكُمۡ لَعَلَّكُمۡ تَشۡكُرُونَ
Sau đó, TA đã làm cho các ngươi sống lại từ cái chết của các ngươi mong rằng các ngươi biết tạ ơn Ngài về những ân huệ mà Ngài đã ban cho các ngươi.
التفاسير العربية:
وَظَلَّلۡنَا عَلَيۡكُمُ ٱلۡغَمَامَ وَأَنزَلۡنَا عَلَيۡكُمُ ٱلۡمَنَّ وَٱلسَّلۡوَىٰۖ كُلُواْ مِن طَيِّبَٰتِ مَا رَزَقۡنَٰكُمۡۚ وَمَا ظَلَمُونَا وَلَٰكِن كَانُوٓاْ أَنفُسَهُمۡ يَظۡلِمُونَ
Một trong những ân huệ mà TA đã ban cho các ngươi là TA đã gửi mây đến che mát các ngươi khỏi cái nóng của mặt trời khi nó chói rọi xuống trái đất, TA đã ban xuống cho các ngươi Al-Man (có người nói đó là các loại thực phẩm tốt lành như mật ong, và có người thì nói đó là những thực phẩm hảo hạng, cao cấp và quí hiếm từ chiếc bàn thực phẩm mà Allah đã ban xuống cho Nabi Ysa và các tông đồ của Người) cùng với Salwa (một loài chim nhỏ mà thịt của nó thơm ngon, có lời cho rằng đó là chim cút). TA đã phán bảo các ngươi hãy ăn thỏa thích từ những nguồn thực phẩm tốt lành mà TA đã ban cấp cho các ngươi. Và TA không hề bị mất giảm bất cứ điều gì từ việc chúng phủ nhận các ân huệ này của TA, tuy nhiên, chính chúng đã làm thiệt hại cho bản thân chúng vì chúng đã đánh mất phần ân phước và sẽ phải đối diện với sự trừng phạt.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• عِظَمُ نعم الله وكثرتها على بني إسرائيل، ومع هذا لم تزدهم إلا تكبُّرًا وعنادًا.
Allah đã ban nhiều ân huệ to lớn cho người dân Isra-el, tuy nhiên, họ lại chỉ biết tự cao tự đại một cách ngông cuồng.

• سَعَةُ حِلم الله تعالى ورحمته بعباده، وإن عظمت ذنوبهم.
Lòng Nhân Từ bao la của Allah vẫn cứ bao trùm lấy đám bề tôi của Ngài cho dù tội lỗi của họ nhiều và lớn thế nào.

• الوحي هو الفَيْصَلُ بين الحق والباطل.
Các Lời Mặc Khải là nguồn chuẩn mực để phân biệt giữa điều chân lý và ngụy tạo, giữa phúc và tội, giữa sự hướng dẫn và lầm lạc.


وَإِذۡ قُلۡنَا ٱدۡخُلُواْ هَٰذِهِ ٱلۡقَرۡيَةَ فَكُلُواْ مِنۡهَا حَيۡثُ شِئۡتُمۡ رَغَدٗا وَٱدۡخُلُواْ ٱلۡبَابَ سُجَّدٗا وَقُولُواْ حِطَّةٞ نَّغۡفِرۡ لَكُمۡ خَطَٰيَٰكُمۡۚ وَسَنَزِيدُ ٱلۡمُحۡسِنِينَ
Các ngươi hãy nhớ lại một trong các ân huệ mà Allah đã ban cho các ngươi khi Ngài phán với các ngươi: Hãy đi vào Jerusalem nơi có ngôi đền Thiêng Al-Maqdis và hãy ăn những gì tốt lành trong đó ở bất cứ nơi nào các ngươi muốn một cách thỏa thích, và khi đi vào trong đó thì các ngươi hãy cúi đầu phủ phục Allah và hãy luôn cầu xin Ngài với lời nguyện cầu: "lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài xóa tội của bầy tôi", TA sẽ đáp lại lời nguyện cầu của các ngươi và sẽ ban thêm cho những người làm tốt những phần thưởng tốt đẹp.
التفاسير العربية:
فَبَدَّلَ ٱلَّذِينَ ظَلَمُواْ قَوۡلًا غَيۡرَ ٱلَّذِي قِيلَ لَهُمۡ فَأَنزَلۡنَا عَلَى ٱلَّذِينَ ظَلَمُواْ رِجۡزٗا مِّنَ ٱلسَّمَآءِ بِمَا كَانُواْ يَفۡسُقُونَ
Những kẻ làm điều sai quấy đã thay đổi hành động và bóp méo lời nói, họ đi vào với tư thế bò trườn bằng lưng của họ và họ nói: hạt trên sợi tóc, ý trêu cợt với mệnh lệnh của Allah. Thế là Alalh đã giáng một tai họa từ trên trời xuống để trừng phạt họ bởi tội họ đã làm trái lệnh Ngài và có thái độ bỡn cợt với Ngài.
التفاسير العربية:
۞وَإِذِ ٱسۡتَسۡقَىٰ مُوسَىٰ لِقَوۡمِهِۦ فَقُلۡنَا ٱضۡرِب بِّعَصَاكَ ٱلۡحَجَرَۖ فَٱنفَجَرَتۡ مِنۡهُ ٱثۡنَتَا عَشۡرَةَ عَيۡنٗاۖ قَدۡ عَلِمَ كُلُّ أُنَاسٖ مَّشۡرَبَهُمۡۖ كُلُواْ وَٱشۡرَبُواْ مِن رِّزۡقِ ٱللَّهِ وَلَا تَعۡثَوۡاْ فِي ٱلۡأَرۡضِ مُفۡسِدِينَ
Các ngươi hãy nhớ lại ân huệ của Allah ban cho các ngươi khi mà các các ngươi trong cơn khát dữ dội nhưng lại không tìm thấy nguồn nước. Musa đã phủ phục cầu nguyện Thượng Đế của Y xin cho các ngươi nguồn nước. TA đã bảo Y đánh chiếc gậy của Y xuống một tảng đá, Y đã tuân lệnh làm theo, từ tảng đá đó phun ra mười hai dòng suối để làm nguồn nước cho mười hai bộ lạc của dân Isra-el các ngươi, mỗi dòng suối là nguồn nước dành riêng cho từng bộ lạc để các ngươi khỏi tranh giành và xung đột lẫn nhau. TA đã phán với các ngươi: "Các ngươi hãy ăn và uống từ bổng lộc của Allah ban cho các ngươi nhưng chớ có hành động bất tuân TA và chớ làm điều phá hoại và thối nát trên trái đất".
التفاسير العربية:
وَإِذۡ قُلۡتُمۡ يَٰمُوسَىٰ لَن نَّصۡبِرَ عَلَىٰ طَعَامٖ وَٰحِدٖ فَٱدۡعُ لَنَا رَبَّكَ يُخۡرِجۡ لَنَا مِمَّا تُنۢبِتُ ٱلۡأَرۡضُ مِنۢ بَقۡلِهَا وَقِثَّآئِهَا وَفُومِهَا وَعَدَسِهَا وَبَصَلِهَاۖ قَالَ أَتَسۡتَبۡدِلُونَ ٱلَّذِي هُوَ أَدۡنَىٰ بِٱلَّذِي هُوَ خَيۡرٌۚ ٱهۡبِطُواْ مِصۡرٗا فَإِنَّ لَكُم مَّا سَأَلۡتُمۡۗ وَضُرِبَتۡ عَلَيۡهِمُ ٱلذِّلَّةُ وَٱلۡمَسۡكَنَةُ وَبَآءُو بِغَضَبٖ مِّنَ ٱللَّهِۚ ذَٰلِكَ بِأَنَّهُمۡ كَانُواْ يَكۡفُرُونَ بِـَٔايَٰتِ ٱللَّهِ وَيَقۡتُلُونَ ٱلنَّبِيِّـۧنَ بِغَيۡرِ ٱلۡحَقِّۚ ذَٰلِكَ بِمَا عَصَواْ وَّكَانُواْ يَعۡتَدُونَ
Các ngươi hãy nhớ lại lúc các ngươi phủ nhận ân huệ của Thượng Đế các ngươi, các ngươi chán ngán với các thực phẩm mà Allah đã ban xuống cho các ngươi từ Al-Man và Salwa, các ngươi than rằng các ngươi không thể chịu được một loại thức ăn mãi không có gì thay đổi cả, các ngươi đòi hỏi Musa cầu xin Allah làm mọc ra cho các ngươi từ đất những loại rau tươi, dưa chuột, tỏi, đậu lăng và hành để các ngươi làm thực phẩm. Musa đã nói với các ngươi bằng thái độ không chấp nhận yêu cầu của các ngươi rằng chẳng lẽ các ngươi lại đòi những thứ tệ và thua kém hơn những thứ mà Ngài đã ban cho các ngươi từ Al-Man và Salwa hay sao. Quả thật, Al-Man và Salwa là nguồn thực phẩm tốt lành và hảo hạng cho các ngươi, nguồn thực phẩm này đến với các ngươi mà các ngươi không cần phải mệt mỏi và quá tốn sức. Musa bảo các ngươi hãy rời khỏi vùng đất ân phúc này mà đi đến các thị trấn nào khác của Ai Cập, ở những nơi đó, các ngươi sẽ tìm thấy những thứ các ngươi đòi hỏi ở các nương rẫy và các khu chợ. Bởi việc chạy theo dục vọng và việc cứ lặp đi lặp lại hành động phủ nhận những lựa chọn của Allah dành cho các ngươi nên Ngài đã làm cho các ngươi nghèo khó và cơ cực; và các ngươi phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Ngài cho việc các ngươi chống lại tôn giáo của Ngài và việc các ngươi phủ nhận các Lời Mặc Khải của Ngài cũng như việc các ngươi đã giết các vị Nabi của Ngài một cách bất công bởi lòng hận thù của các ngươi; và tất cả những hành động và việc làm đó của các ngươi đều là bất tuân và vượt quá mức giới hạn của Ngài.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• كل من يتلاعب بنصوص الشرع ويحرّفها فيه شَبَهٌ من اليهود، وهو مُتوعَّد بعقوبة الله تعالى.
Tất cả những ai đùa giỡn và giễu cợt với các văn bản giáo lý của Allah, bóp méo và thay đổi nó thì họ giống như những người Do Thái, họ bị cảnh báo về sự trừng phạt của Ngài.

• عِظَمُ فضل الله تعالى على بني إسرائيل، وفي مقابل ذلك شدة جحودهم وعنادهم وإعراضهم عن الله وشرعه.
Allah đã ưu đãi cho người dân Isra-el quá nhiều nhưng đổi lại là sự phủ nhận, chống đối và bất tuân mà họ dành cho Ngài.

• أن من شؤم المعاصي وتجاوز حدود الله تعالى ما ينزل بالمرء من الذل والهوان، وتسلط الأعداء عليه.
Và một trong những sự trừng phạt cho những ai có hành động bất tuân và vượt mức giới hạn của Allah trên thế gian là Ngài sẽ hạ nhục họ bằng sự nghèo khó, cơ cực và bị kẻ thù cai trị.


إِنَّ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَٱلَّذِينَ هَادُواْ وَٱلنَّصَٰرَىٰ وَٱلصَّـٰبِـِٔينَ مَنۡ ءَامَنَ بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ وَعَمِلَ صَٰلِحٗا فَلَهُمۡ أَجۡرُهُمۡ عِندَ رَبِّهِمۡ وَلَا خَوۡفٌ عَلَيۡهِمۡ وَلَا هُمۡ يَحۡزَنُونَ
Những người tín đồ của cộng đồng này tức cộng đồng tín đồ của Muhammad và những tín đồ của những cộng đồng trước Muhammad từ Do Thái, Thiên Chúa và Sabian (một dân tộc trong quá khứ đã sống tại Musal (I-rắc), tôn thờ Allah và đọc Kinh Al-Zabur), ai trong số họ đi theo các vị Nabi của Allah bằng đức tin Iman nơi Allah và Ngày Phán Xử Cuối Cùng thì đều tìm thấy ân phước của mình nơi Thượng Đế của họ, họ sẽ không lo sợ khi đối mặt với cuộc sống cõi Đời Sau và cũng không buồn phiền về những mất mát trên cõi trần.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ أَخَذۡنَا مِيثَٰقَكُمۡ وَرَفَعۡنَا فَوۡقَكُمُ ٱلطُّورَ خُذُواْ مَآ ءَاتَيۡنَٰكُم بِقُوَّةٖ وَٱذۡكُرُواْ مَا فِيهِ لَعَلَّكُمۡ تَتَّقُونَ
Các ngươi hãy nhớ lại khi TA dã nhận Giáo Ước của các ngươi về việc các ngươi tin nơi TA và các vị Thiên Sứ của TA, và TA đã nhấc quả núi lên bên trên các ngươi để răn đe và cảnh báo những ai từ bỏ hành động theo Giao ước. TA đã ra lệnh cho các ngươi phải bám chặt lấy Kinh Tawrah không được hời hợt và xao lãng, và TA bảo các ngươi phải ghi nhớ những gì trong đó mong rằng với sự ngay chính đó các ngươi tránh được sự trừng phạt của TA.
التفاسير العربية:
ثُمَّ تَوَلَّيۡتُم مِّنۢ بَعۡدِ ذَٰلِكَۖ فَلَوۡلَا فَضۡلُ ٱللَّهِ عَلَيۡكُمۡ وَرَحۡمَتُهُۥ لَكُنتُم مِّنَ ٱلۡخَٰسِرِينَ
Tuy nhiên, sau đó các ngươi lại nghịch đạo và trái lệnh và nếu như không do phúc đức và lòng khoan dung của Allah cho hành động vượt quá giới hạn của các ngươi cũng như nếu không do lòng thương xót của Ngài trong việc đón nhận sự sám hối của các ngươi thì chắc chắn các ngươi đã là những kẻ thất bại thảm hại.
التفاسير العربية:
وَلَقَدۡ عَلِمۡتُمُ ٱلَّذِينَ ٱعۡتَدَوۡاْ مِنكُمۡ فِي ٱلسَّبۡتِ فَقُلۡنَا لَهُمۡ كُونُواْ قِرَدَةً خَٰسِـِٔينَ
Quả thật, các ngươi biết rất rõ thông tin về cha ông của các ngươi khi họ bị cấm đánh bắt cá vào ngày thứ bảy thì họ đã giăng lưới vào ngày trước thứ bảy, rồi đợi đến ngày chủ nhật họ mới thu lượm cá mang về, thế là Allah cho họ biến thành những con khỉ, một hình phạt dành cho những ai bỡn cợt và gian xảo trước giới cấm của Ngài.
التفاسير العربية:
فَجَعَلۡنَٰهَا نَكَٰلٗا لِّمَا بَيۡنَ يَدَيۡهَا وَمَا خَلۡفَهَا وَمَوۡعِظَةٗ لِّلۡمُتَّقِينَ
TA đã trừng phạt cái thị trấn vượt giới hạn của TA để làm một bài học cho các thị trấn khác và cho những ai sau này và TA cũng lấy đó làm sự nhắc nhở đến những ai ngay chính sợ sự trừng phạt của TA.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ قَالَ مُوسَىٰ لِقَوۡمِهِۦٓ إِنَّ ٱللَّهَ يَأۡمُرُكُمۡ أَن تَذۡبَحُواْ بَقَرَةٗۖ قَالُوٓاْ أَتَتَّخِذُنَا هُزُوٗاۖ قَالَ أَعُوذُ بِٱللَّهِ أَنۡ أَكُونَ مِنَ ٱلۡجَٰهِلِينَ
Các ngươi hãy nhớ lại thông tin về cha ông của các ngươi trước đây rằng khi Musa nói với họ: Allah ra lệnh cho các ngươi giết một còn bò cái thì họ lại giễu cợt nói với Người: há ngươi muốn lấy bọn ta ra làm trò đùa điên rồ ấy sao? Musa nói với họ rằng Người không hề nói dối và cũng không hề có ý bỡn cợt và Người cầu xin Allah phù hộ và che chở tránh khỏi những hạng người đó.
التفاسير العربية:
قَالُواْ ٱدۡعُ لَنَا رَبَّكَ يُبَيِّن لَّنَا مَا هِيَۚ قَالَ إِنَّهُۥ يَقُولُ إِنَّهَا بَقَرَةٞ لَّا فَارِضٞ وَلَا بِكۡرٌ عَوَانُۢ بَيۡنَ ذَٰلِكَۖ فَٱفۡعَلُواْ مَا تُؤۡمَرُونَ
Họ bảo Musa cầu xin Allah trình bày rõ hơn về con bò mà Ngài ra lệnh cho họ giết. Musa nói với họ: Allah phán rằng đó là con bò cái tơ, không quá già cũng không quá non, giờ đã rõ thì các ngươi hãy mau thực hiện theo lệnh Ngài.
التفاسير العربية:
قَالُواْ ٱدۡعُ لَنَا رَبَّكَ يُبَيِّن لَّنَا مَا لَوۡنُهَاۚ قَالَ إِنَّهُۥ يَقُولُ إِنَّهَا بَقَرَةٞ صَفۡرَآءُ فَاقِعٞ لَّوۡنُهَا تَسُرُّ ٱلنَّـٰظِرِينَ
Họ vẫn tiếp tục gây khó khăn cho Musa, họ đòi Người cầu xin Allah trình bày cụ thể hơn nữa về màu sắc của con bò. Musa bảo họ: Allah phán rằng đó là con bò màu vàng hung lông mượt làm cho người nhìn thích thú.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• الحُكم المذكور في الآية الأولى لِمَا قبل بعثة النبي صلى الله عليه وسلم، وأما بعد بعثته فإن الدين المَرْضِيَّ عند الله هو الإسلام، لا يقبل غيره، كما قال الله تعالى: ﴿ وَمَنْ يَبْتَغِ غَيْرَ الْإِسْلَامِ دِينًا فَلَنْ يُقْبَلَ مِنْه ﴾ (آل عمران: 85).
Giới luật được đề cập đến ở câu Kinh thứ nhất là cho thời đại trước sứ mạng của Thiên Sứ Muhammad còn sau khi Người nhận lãnh sứ mạng Thiên Sứ thì tôn giáo được Allah hài lòng chỉ có Islam, Ngài không chấp nhận bất kỳ tôn giáo nào khác như Ngài đã phán: {Và ai tìm kiếm một tôn giáo nào khác ngoài Islam thì y không bao giờ được chấp nhận} (Chương 3 - Ali-'Imran: 85).

• قد يُعَجِّلُ الله العقوبة على بعض المعاصي في الدنيا قبل الآخرة؛ لتكون تذكرة يتعظ بها الناس فيحذروا مخالفة أمر الله تعالى.
Allah có thể giáng hình phạt xuống một số người nghịch lại lệnh của Ngài ngay trên trần gian này trước khi họ chuyển đến cuộc sống cõi Đời Sau nhằm nhắc nhở nhân loại để họ thức tỉnh mà tránh xa việc trái lệnh và bất tuân Ngài.

• أنّ من ضيَّق على نفسه وشدّد عليها فيما ورد موسَّعًا في الشريعة، قد يُعاقَبُ بالتشديد عليه.
Một trong những điều làm khó bản thân là cố đòi sự cụ thể hóa trong giáo lý và có thể còn bị trừng phạt bởi sự thắc mắc và đòi hỏi quá nhiều.


قَالُواْ ٱدۡعُ لَنَا رَبَّكَ يُبَيِّن لَّنَا مَا هِيَ إِنَّ ٱلۡبَقَرَ تَشَٰبَهَ عَلَيۡنَا وَإِنَّآ إِن شَآءَ ٱللَّهُ لَمُهۡتَدُونَ
Rồi các ngươi vẫn không dừng lại, các ngươi vẫn tiếp tục yêu cầu Musa cầu xin Thượng Đế của Người cho biết thêm các thuộc tính của con bò cái và các ngươi bảo rằng vì con bò như đã được mô tả vẫn còn rất giống nhau, các ngươi chưa thể phân biệt được, lần này nếu như được trình bày thêm các đặc điểm của nó - insha-Allah các ngươi sẽ được hướng dẫn đến với con bò được yêu cầu.
التفاسير العربية:
قَالَ إِنَّهُۥ يَقُولُ إِنَّهَا بَقَرَةٞ لَّا ذَلُولٞ تُثِيرُ ٱلۡأَرۡضَ وَلَا تَسۡقِي ٱلۡحَرۡثَ مُسَلَّمَةٞ لَّا شِيَةَ فِيهَاۚ قَالُواْ ٱلۡـَٰٔنَ جِئۡتَ بِٱلۡحَقِّۚ فَذَبَحُوهَا وَمَا كَادُواْ يَفۡعَلُونَ
Musa nói với họ: quả thật Allah phán rằng đặc điểm của con bò được yêu cầu là nó không được bắt đi cày đất hay kéo nước vào ruộng, nó khỏe mạnh và lành lặn không có bất kỳ một khiếm khuyết và dị tật nào, và lông của nó vàng hung không có pha lẫn với bất cứ màu sắc nào khác. Lúc này, họ mới nói: giờ ngươi đã mô tả đặc điểm của con bò được yêu cầu rất rõ ràng và tỉ mỉ và mới chịu tiến hành giết con bò mặc dầu trước đó gần như không muốn làm.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ قَتَلۡتُمۡ نَفۡسٗا فَٱدَّـٰرَ ٰٔتُمۡ فِيهَاۖ وَٱللَّهُ مُخۡرِجٞ مَّا كُنتُمۡ تَكۡتُمُونَ
Các ngươi hãy nhớ lại lúc các ngươi giết chết một người trong đám các ngươi nhưng mỗi người các ngươi đều chối bỏ mình liên can và tố cáo người khác, các ngươi tranh cãi nhau, nhưng rồi Allah đã làm sáng tỏ điều các ngươi che giấu.
التفاسير العربية:
فَقُلۡنَا ٱضۡرِبُوهُ بِبَعۡضِهَاۚ كَذَٰلِكَ يُحۡيِ ٱللَّهُ ٱلۡمَوۡتَىٰ وَيُرِيكُمۡ ءَايَٰتِهِۦ لَعَلَّكُمۡ تَعۡقِلُونَ
TA đã phán bảo các ngươi đánh nạn nhân bằng một phần của con bò cái mà các ngươi đã giết. Bằng cách đó, TA đã làm nạn nhân sống lại để khai tên của kẻ sát nhân. Các ngươi làm theo lời phán của TA và TA đã cho nạn nhân sống lại khai ra tên của kẻ sát nhân và đó là hình ảnh mà TA sẽ làm cho người chết sống lại từ cõi chết vào Ngày Phục Sinh. TA muốn cho các ngươi thấy các dấu hiệu rõ ràng về quyền năng của TA mong rằng các ngươi hiểu ra sự việc mà có đức tin thực sự nơi TA.
التفاسير العربية:
ثُمَّ قَسَتۡ قُلُوبُكُم مِّنۢ بَعۡدِ ذَٰلِكَ فَهِيَ كَٱلۡحِجَارَةِ أَوۡ أَشَدُّ قَسۡوَةٗۚ وَإِنَّ مِنَ ٱلۡحِجَارَةِ لَمَا يَتَفَجَّرُ مِنۡهُ ٱلۡأَنۡهَٰرُۚ وَإِنَّ مِنۡهَا لَمَا يَشَّقَّقُ فَيَخۡرُجُ مِنۡهُ ٱلۡمَآءُۚ وَإِنَّ مِنۡهَا لَمَا يَهۡبِطُ مِنۡ خَشۡيَةِ ٱللَّهِۗ وَمَا ٱللَّهُ بِغَٰفِلٍ عَمَّا تَعۡمَلُونَ
Nhưng rồi sau những lời khuyên cũng như những phép lạ, tấm lòng của họ lại trở nên chai cứng như đá, không, cứng còn hơn đá, tấm lòng của họ sẽ không bao giờ còn có thể thay đổi được nữa trong khi đá có thể thay đổi và biến chuyển bởi vì có loại đá từ đó các dòng sông phun ra, có loại đá nứt ra để nước trong đó chảy ra để làm nguồn lợi cho con người và loài vật, và có loại đá rơi xuống từ các ngọn núi cao vì sợ Allah, còn trái tim và tấm lòng của họ thì không như thế. Và Allah không phải không hay biết những điều họ làm mà Ngài am tường tất cả mọi thứ, rồi đây Ngài sẽ tưởng thưởng cho họ thích đáng theo những gì họ đã làm.
التفاسير العربية:
۞أَفَتَطۡمَعُونَ أَن يُؤۡمِنُواْ لَكُمۡ وَقَدۡ كَانَ فَرِيقٞ مِّنۡهُمۡ يَسۡمَعُونَ كَلَٰمَ ٱللَّهِ ثُمَّ يُحَرِّفُونَهُۥ مِنۢ بَعۡدِ مَا عَقَلُوهُ وَهُمۡ يَعۡلَمُونَ
Hỡi những người có đức tin! Có phải các ngươi đang hy vọng những người Do Thái sẽ có đức tin và đáp lại lời kêu gọi của các ngươi chăng? Quả thật đã có một nhóm người thuộc giới học giả và tu sĩ của họ nghe thấy Lời Phán của Allah được ban xuống cho họ trong Kinh Tawrah nhưng rồi họ đã thay đổi lời lẽ và nội dung trong đó sau khi họ đã thực sự hiểu trong khi họ biết rõ hành động đó của họ là đại trọng tội.
التفاسير العربية:
وَإِذَا لَقُواْ ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ قَالُوٓاْ ءَامَنَّا وَإِذَا خَلَا بَعۡضُهُمۡ إِلَىٰ بَعۡضٖ قَالُوٓاْ أَتُحَدِّثُونَهُم بِمَا فَتَحَ ٱللَّهُ عَلَيۡكُمۡ لِيُحَآجُّوكُم بِهِۦ عِندَ رَبِّكُمۡۚ أَفَلَا تَعۡقِلُونَ
Một trong những điều gian xảo của những người Do Thái là khi gặp những người có đức tin thì họ thừa nhận họ thực sự đã tin nơi Nabi Muhammad và nơi Bức Thông Điệp Người mang đến và họ bảo Kinh Tawrah đã xác nhận điều đó, nhưng khi họ ở riêng nhóm của họ thì họ trách cứ lẫn nhau sao lại để cho những người có đức tin biết những gì trong Tawrah để rồi họ có cái để tranh luận về sứ mạng của Muhammad.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أن بعض قلوب العباد أشد قسوة من الحجارة الصلبة؛ فلا تلين لموعظة، ولا تَرِقُّ لذكرى.
Một số trái tim của đám bề tôi còn cứng hơn cả đá, nó không hề bị tác động bởi lời khuyên răn chân lý.

• أن الدلائل والبينات - وإن عظمت - لا تنفع إن لم يكن القلب مستسلمًا خاشعًا لله.
Các bằng chứng, các dấu hiệu rõ ràng cho dù có vĩ đại thế nào cũng không mang lại lợi ích cho những trái tim không thần phục và sợ Allah.

• كشفت الآيات حقيقة ما انطوت عليه أنفس اليهود، حيث توارثوا الرعونة والخداع والتلاعب بالدين.
Các câu Kinh cho thấy bản chất thật của những người Do Thái rằng họ luôn gian xảo và giễu cợt với tôn giáo.


أَوَلَا يَعۡلَمُونَ أَنَّ ٱللَّهَ يَعۡلَمُ مَا يُسِرُّونَ وَمَا يُعۡلِنُونَ
Những người Do Thái này đi trên con đường sai trai đó chẳng lẽ họ tưởng rằng Allah không hay biết gì về những điều họ giấu giếm hay công khai từ lời nói và hành động của họ hay sao?
التفاسير العربية:
وَمِنۡهُمۡ أُمِّيُّونَ لَا يَعۡلَمُونَ ٱلۡكِتَٰبَ إِلَّآ أَمَانِيَّ وَإِنۡ هُمۡ إِلَّا يَظُنُّونَ
Trong số những người Do thái, có nhóm người chẳng biết gì về Kinh Tawrah, họ chẳng hiểu gì cả, những gì họ nói đều toàn là những lời nói dối bởi sự tự cao tự đại của họ và họ cứ tưởng đó là Kinh Tawrah mà Allah đã ban xuống.
التفاسير العربية:
فَوَيۡلٞ لِّلَّذِينَ يَكۡتُبُونَ ٱلۡكِتَٰبَ بِأَيۡدِيهِمۡ ثُمَّ يَقُولُونَ هَٰذَا مِنۡ عِندِ ٱللَّهِ لِيَشۡتَرُواْ بِهِۦ ثَمَنٗا قَلِيلٗاۖ فَوَيۡلٞ لَّهُم مِّمَّا كَتَبَتۡ أَيۡدِيهِمۡ وَوَيۡلٞ لَّهُم مِّمَّا يَكۡسِبُونَ
Sự hủy diệt và hình phạt khắc nghiệt đang đợi những người này, những người mà họ đã viết ra kinh sách bằng chính bàn tay của họ rồi dối trá rằng đó là Kinh Sách đến từ nơi Allah mục đích chỉ để đổi chác điều chần lý với một giá rẻ mạt của thế gian như của cải vật chất và quyền hành. Sự hủy diệt và hình phạt khắc nghiệt dành cho họ bởi những điều mà bàn tay của họ đã viết ra để dối lừa Allah và sự hủy diệt và hình phạt khắc nghiệt dành cho họ bởi những lợi lộc tầm thường mà họ kiếm được.
التفاسير العربية:
وَقَالُواْ لَن تَمَسَّنَا ٱلنَّارُ إِلَّآ أَيَّامٗا مَّعۡدُودَةٗۚ قُلۡ أَتَّخَذۡتُمۡ عِندَ ٱللَّهِ عَهۡدٗا فَلَن يُخۡلِفَ ٱللَّهُ عَهۡدَهُۥٓۖ أَمۡ تَقُولُونَ عَلَى ٱللَّهِ مَا لَا تَعۡلَمُونَ
Họ (những người Do Thái) nói trong sự lừa dối và gian trá rằng họ sẽ không bao giờ phải chịu hình phạt trong Hỏa Ngục trừ một số ngày ít ỏi. Ngươi - Muhammad hãy bảo họ: Há các người khẳng định như thế là bởi vì các người đã nhận được lời hứa của Allah hay sao? Và chắc chắn sự việc không phải như vậy bởi Allah không bao giờ thất hứa. Hoặc chẳng lẽ các người muốn dối gạt cả Allah về những điều mà các ngươi không biết gì ư?
التفاسير العربية:
بَلَىٰۚ مَن كَسَبَ سَيِّئَةٗ وَأَحَٰطَتۡ بِهِۦ خَطِيٓـَٔتُهُۥ فَأُوْلَـٰٓئِكَ أَصۡحَٰبُ ٱلنَّارِۖ هُمۡ فِيهَا خَٰلِدُونَ
Sự việc không như những gì mà họ đã khẳng định bởi chắc chắn Allah sẽ trừng phạt tất cả những ai làm tội lỗi từ những việc làm vô đức tin và tội lỗi đã vây quanh con người họ; họ chắc chắn sẽ bị đày trong Hỏa Ngục và sẽ vĩnh viễn sống trong đó không có ngày trở ra, đó là điều hiển nhiên dành cho họ.
التفاسير العربية:
وَٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ وَعَمِلُواْ ٱلصَّـٰلِحَٰتِ أُوْلَـٰٓئِكَ أَصۡحَٰبُ ٱلۡجَنَّةِۖ هُمۡ فِيهَا خَٰلِدُونَ
Những người có đức tin nơi Allah và nơi vị Thiên Sứ của Ngài đồng thời làm việc thiện tốt và hành đạo thì phần thưởng của họ nơi Allah là Thiên Đàng, họ sẽ vào sống mãi trong đó, và đó là điều hiển nhiên dành cho họ.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ أَخَذۡنَا مِيثَٰقَ بَنِيٓ إِسۡرَـٰٓءِيلَ لَا تَعۡبُدُونَ إِلَّا ٱللَّهَ وَبِٱلۡوَٰلِدَيۡنِ إِحۡسَانٗا وَذِي ٱلۡقُرۡبَىٰ وَٱلۡيَتَٰمَىٰ وَٱلۡمَسَٰكِينِ وَقُولُواْ لِلنَّاسِ حُسۡنٗا وَأَقِيمُواْ ٱلصَّلَوٰةَ وَءَاتُواْ ٱلزَّكَوٰةَ ثُمَّ تَوَلَّيۡتُمۡ إِلَّا قَلِيلٗا مِّنكُمۡ وَأَنتُم مُّعۡرِضُونَ
Các ngươi hãy nhớ lại - hỡi con cháu Isra-el - về Giao ước mà TA đã thiết lập với các ngươi, đó là các ngươi phải tôn thờ riêng một mình Allah, không thờ phương ai (vật) nào khác cùng với Ngài; các ngươi phải hiếu thảo và sống tử tế với cha mẹ, tử tế với bà con ruột thịt, các trẻ mồ côi và những người nghèo khó; các ngươi hãy nói năng nhã nhặn và lịch thiệp với mọi người trong việc kêu gọi làm việc thiện tốt và ngăn cản mọi người làm điều xấu, chớ buông lời thô tục và khiếm nhã; các ngươi phải chu đáo dâng lễ nguyện Salah và phải đóng Zakah tức trích một phần tài sản bắt buộc từ nguồn tài sản tốt lành của các ngươi đem phân phát cho người nghèo. Tuy nhiên, các ngươi đã quay lưng với những điều trong Giao ước đó của Allah bằng sự đại nghịch và bất tuân Ngài.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• بعض أهل الكتاب يدّعي العلم بما أنزل الله، والحقيقة أن لا علم له بما أنزل الله، وإنما هو الوهم والجهل.
Một số người dân Kinh Sách đã cho rằng kiến thức được Allah ban xuống nhưng thực chất kiến thức đó không phải do Allah ban xuống mà chỉ là do chính họ bịa ra bằng sự ảo giác và ngu dốt của họ.

• من أعظم الناس إثمًا من يكذب على الله تعالى ورسله ؛ فينسب إليهم ما لم يكن منهم.
Một trong những đại trọng tội của con người là dối trá Allah và các vị Thiên Sứ của Ngài, họ gán cho Allah và các vị Thiên Sứ của Ngài những điều không thuộc về Ngài cũng như không thuộc về các vị Thiên Sứ của Ngài.

• مع عظم المواثيق التي أخذها الله تعالى على اليهود وشدة التأكيد عليها، لم يزدهم ذلك إلا إعراضًا عنها ورفضًا لها.
Mặc dù Allah đã thiết lập giao ước với người Do Thái một cách nghiêm khắc nhưng họ vẫn đại nghịch với Ngài qua việc quay lưng làm ngơ với giao ước của Ngài đối với họ.


وَإِذۡ أَخَذۡنَا مِيثَٰقَكُمۡ لَا تَسۡفِكُونَ دِمَآءَكُمۡ وَلَا تُخۡرِجُونَ أَنفُسَكُم مِّن دِيَٰرِكُمۡ ثُمَّ أَقۡرَرۡتُمۡ وَأَنتُمۡ تَشۡهَدُونَ
Các ngươi hãy nhớ lại hỡi người dân Isra-el khi TA thiết lập giao ước với các ngươi trong Kinh Tawrah từ việc cấm các ngươi gây đổ máu cho nhau, cấm các ngươi xua đuổi nhau ra khỏi nhà cửa của các ngươi, các ngươi đã thừa nhận giao ước đó và các ngươi là những người làm chứng cho tính xác thực của nó.
التفاسير العربية:
ثُمَّ أَنتُمۡ هَـٰٓؤُلَآءِ تَقۡتُلُونَ أَنفُسَكُمۡ وَتُخۡرِجُونَ فَرِيقٗا مِّنكُم مِّن دِيَٰرِهِمۡ تَظَٰهَرُونَ عَلَيۡهِم بِٱلۡإِثۡمِ وَٱلۡعُدۡوَٰنِ وَإِن يَأۡتُوكُمۡ أُسَٰرَىٰ تُفَٰدُوهُمۡ وَهُوَ مُحَرَّمٌ عَلَيۡكُمۡ إِخۡرَاجُهُمۡۚ أَفَتُؤۡمِنُونَ بِبَعۡضِ ٱلۡكِتَٰبِ وَتَكۡفُرُونَ بِبَعۡضٖۚ فَمَا جَزَآءُ مَن يَفۡعَلُ ذَٰلِكَ مِنكُمۡ إِلَّا خِزۡيٞ فِي ٱلۡحَيَوٰةِ ٱلدُّنۡيَاۖ وَيَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِ يُرَدُّونَ إِلَىٰٓ أَشَدِّ ٱلۡعَذَابِۗ وَمَا ٱللَّهُ بِغَٰفِلٍ عَمَّا تَعۡمَلُونَ
Nhưng rồi các ngươi đã làm trái với giao ước của Allah, các ngươi đã giết hại lẫn nhau, các ngươi xua đuổi một thành phần trong các ngươi ra khỏi nhà cửa của họ, các ngươi tiếp tay cho kẻ thù chống lại họ bằng sự bất công và lòng hận thù, và khi họ rơi vào tay các ngươi như một tù binh thì các ngươi đòi tiền chuộc, các ngươi thừa biết các ngươi không có quyền đuổi họ ra khỏi nhà cửa của họ, việc làm đó của các ngươi bị cấm đoán. Sao các ngươi lại có thể tin một phần của Kinh Tawrah về việc bắt buộc chuộc tù binh nhưng lại phủ nhận một phần của Nó về việc gây ra sự đổ máu cũng như việc cấm xua đuổi nhau ra khỏi nhà cửa của các ngươi? Và những kẻ làm như thế chắc chắn sẽ bị trừng phạt một cách nhục nhã trên thế gian này và vào Ngày y còn phải chịu một hình phạt khác nặng nề hơn, và Allah không phải không hay biết những gì các ngươi làm mà thật ra Ngài đang theo dõi và quan sát các ngươi và Ngài sẽ trừng phạt các ngươi một cách thích đáng.
التفاسير العربية:
أُوْلَـٰٓئِكَ ٱلَّذِينَ ٱشۡتَرَوُاْ ٱلۡحَيَوٰةَ ٱلدُّنۡيَا بِٱلۡأٓخِرَةِۖ فَلَا يُخَفَّفُ عَنۡهُمُ ٱلۡعَذَابُ وَلَا هُمۡ يُنصَرُونَ
Những kẻ đó chính là những kẻ đã đổi chác cuộc sống trần gian với cuộc sống cõi Đời Sau, họ lấy cõi đời tiêu vọng tạm bợ để đổi lấy cõi đời vĩnh hằng. Bởi vậy, vào Ngày Sau họ sẽ không được giảm nhẹ bất cứ hình phạt nào và họ cũng sẽ không có được bất kỳ sự giúp đỡ nào trong Ngày Hôm đó.
التفاسير العربية:
وَلَقَدۡ ءَاتَيۡنَا مُوسَى ٱلۡكِتَٰبَ وَقَفَّيۡنَا مِنۢ بَعۡدِهِۦ بِٱلرُّسُلِۖ وَءَاتَيۡنَا عِيسَى ٱبۡنَ مَرۡيَمَ ٱلۡبَيِّنَٰتِ وَأَيَّدۡنَٰهُ بِرُوحِ ٱلۡقُدُسِۗ أَفَكُلَّمَا جَآءَكُمۡ رَسُولُۢ بِمَا لَا تَهۡوَىٰٓ أَنفُسُكُمُ ٱسۡتَكۡبَرۡتُمۡ فَفَرِيقٗا كَذَّبۡتُمۡ وَفَرِيقٗا تَقۡتُلُونَ
Và quả thật, TA đã ban cho Musa Kinh Tawrah và sau Y TA gửi đến các vị Thiên Sứ tiếp nối bước đường của Y, TA đã ban cho Ysa con trai của Maryam những phép lạ để chứng minh sự trung thực của Y như làm cho người chết sống lại, chữa bệnh căm điếc, v.v, cùng với sự hỗ trợ của đại Thiên Thần Jibril. Nhưng mỗi khi một vị Thiên Sứ nào được TA cử đến - hỡi người dân Isra-el - thì các ngươi đều không thuận ý, các ngươi tự cao tự đại không chịu chấp nhận sự thật, các ngươi phủ nhận một nhóm vị Thiên Sứ này và giết hại một nhóm vị Thiên Sứ khác.
التفاسير العربية:
وَقَالُواْ قُلُوبُنَا غُلۡفُۢۚ بَل لَّعَنَهُمُ ٱللَّهُ بِكُفۡرِهِمۡ فَقَلِيلٗا مَّا يُؤۡمِنُونَ
Quả thật người Do Thái lấy lý do không đi theo Muhammad với lời: trái tim của chúng tôi đã đóng lại, nó sẽ không nghe và không hiểu bất cứ điều gì ngươi nói. Nhưng thực tế không phải như họ đã khẳng định mà thật ra họ không tin là do Allah đã trục xuất họ khỏi lòng nhân từ của Ngài bởi sự vô đức tin của họ. Bởi thế, họ chỉ tin rất ít nơi điều Allah ban xuống.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• من أعظم الكفر: الإيمان ببعض ما أنزل الله والكفر ببعضه؛ لأن فاعل ذلك قد جعل إلهه هواه.
Một trong những đại trọng tội của sự vô đức tin là tin nơi một số điều của Kinh Sách mà Allah ban xuống và phủ nhận một số điều trong đó; bởi lẽ kẻ làm như vậy đã lấy dục vọng của bản thân làm thần linh của y.

• عِظَم ما بلغه اليهود من العناد، واتباع الهوى، والتلاعب بما أنزل الله تعالى.
Một trong các bản chất của người Do Thái là ngạo mạn, đi theo dục vọng và giễu cợt với những gì Allah ban xuống.

• فضل الله تعالى ورحمته بخلقه، حيث تابع عليهم إرسال الرسل وإنزال الكتب لهدايتهم للرشاد.
Allah luôn thương xót và nhân từ với con người nên Ngài đã cử hàng loạt các vị Thiên Sứ đến với họ đồng thời ban xuống cùng với các vị Thiên Sứ đó các Kinh Sách để làm nguồn hướng dẫn và chỉ đạo cho họ.

• أن الله يعاقب المعرضين عن الهدى المعاندين لأوامره بالطبع على قلوبهم وطردهم من رحمته؛ فلا يهتدون إلى الحق، ولا يعملون به.
Allah trừng phạt những kẻ quay lưng với sự chỉ đạo của Ngài bằng cách đóng kín trái tim của họ và trục xuất họ khỏi lòng nhân từ của Ngài. Bởi thế, họ không được hướng dẫn đến chân lý và cũng không biết được đâu là chân lý.


وَلَمَّا جَآءَهُمۡ كِتَٰبٞ مِّنۡ عِندِ ٱللَّهِ مُصَدِّقٞ لِّمَا مَعَهُمۡ وَكَانُواْ مِن قَبۡلُ يَسۡتَفۡتِحُونَ عَلَى ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ فَلَمَّا جَآءَهُم مَّا عَرَفُواْ كَفَرُواْ بِهِۦۚ فَلَعۡنَةُ ٱللَّهِ عَلَى ٱلۡكَٰفِرِينَ
Và khi Kinh Qur'an từ nơi Allah đến với họ (người dân Isra-el) tương đồng với những gì được nói trong Kinh Tawrah và Injil về những điều căn bản - và mặc dầu trước đó họ luôn nói: "chúng tôi sẽ giành thắng lợi đối với những người thờ đa thần khi nào một vị Nabi được phái đến, chúng tôi tin nơi Người và sẽ đi theo Người" - nhưng rồi khi Qur'an và Nabi Muhammad đến với họ đúng với những gì mà họ thừa nhận là đúng theo Kinh sách của họ thì họ lại quay lưng phủ nhận. Bởi thế, Allah nguyền rủa những kẻ vô đức tin nơi Allah và Thiên Sứ của Ngài.
التفاسير العربية:
بِئۡسَمَا ٱشۡتَرَوۡاْ بِهِۦٓ أَنفُسَهُمۡ أَن يَكۡفُرُواْ بِمَآ أَنزَلَ ٱللَّهُ بَغۡيًا أَن يُنَزِّلَ ٱللَّهُ مِن فَضۡلِهِۦ عَلَىٰ مَن يَشَآءُ مِنۡ عِبَادِهِۦۖ فَبَآءُو بِغَضَبٍ عَلَىٰ غَضَبٖۚ وَلِلۡكَٰفِرِينَ عَذَابٞ مُّهِينٞ
Thật xấu xa thay về việc họ đã bán đi linh hồn của mình khi nó đã từng có đức tin nơi Allah và Thiên Sứ của Ngài trước đó, họ phủ nhận những gì Allah ban xuống và phủ nhận các vị Thiên Sứ của Ngài chỉ vì lòng đố kỵ cho việc sứ mạng Nabi và Qur'an được ban xuống cho Muhammad. Cho nên, họ đáng bị sự phẫn nộ của Allah từ sự phẫn nộ này đến sự phẫn nộ khác chồng chất lên nhau do sự vô đức tin của họ nơi Muhammad và do sự bóp méo của họ về một số nội dung của Kinh Tawrah. Và những kẻ vô đức tin nơi sứ mạng Nabi của Muhammad sẽ bị trừng phạt một cách nhục nhã vào Ngày Phán Xét.
التفاسير العربية:
وَإِذَا قِيلَ لَهُمۡ ءَامِنُواْ بِمَآ أَنزَلَ ٱللَّهُ قَالُواْ نُؤۡمِنُ بِمَآ أُنزِلَ عَلَيۡنَا وَيَكۡفُرُونَ بِمَا وَرَآءَهُۥ وَهُوَ ٱلۡحَقُّ مُصَدِّقٗا لِّمَا مَعَهُمۡۗ قُلۡ فَلِمَ تَقۡتُلُونَ أَنۢبِيَآءَ ٱللَّهِ مِن قَبۡلُ إِن كُنتُم مُّؤۡمِنِينَ
Khi có lời bảo những người Do Thái rằng các người hãy tin nơi những gì được ban xuống cho vị Thiên Sứ của Ngài - Muhammad từ chân lý và sự hướng dẫn thì họ nói họ chỉ tin nơi những gì được ban xuống cho các vị Nabi của họ và phủ nhận những gì được ban xuống cho Muhammad. Họ phủ nhận Qur'an mặc dù Qur'an đã tương đồng với những gì được nói trong Kinh Tawrah của họ. Và nếu họ thực sự tin nơi những gì được ban xuống cho họ trước đó thì chắc chắn họ đã tin nơi Qur'an. Này hỡi vị Nabi Muhammad! Ngươi hãy trả lời họ: Nếu các ngươi thực sự tin nơi các vị Nabi của các ngươi trước đây thì cớ vì sao các ngươi lại giết hại họ?
التفاسير العربية:
۞وَلَقَدۡ جَآءَكُم مُّوسَىٰ بِٱلۡبَيِّنَٰتِ ثُمَّ ٱتَّخَذۡتُمُ ٱلۡعِجۡلَ مِنۢ بَعۡدِهِۦ وَأَنتُمۡ ظَٰلِمُونَ
Và quả thật, vị Thiên Sứ của các ngươi, Musa đã đến với các ngươi bằng những phép lạ để chứng minh sự trung thực của Người nhưng rồi sau đó, khi Người đi vắng thì các ngươi lấy con bò đúc ra làm thần linh để thờ phượng, họ thật là những người sai quấy khi làm điều Shirk với Allah trong khi Ngài là Đấng duy nhất đáng được thờ phượng, không ai (vật gì) ngoài Ngài có quyền đó cả.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ أَخَذۡنَا مِيثَٰقَكُمۡ وَرَفَعۡنَا فَوۡقَكُمُ ٱلطُّورَ خُذُواْ مَآ ءَاتَيۡنَٰكُم بِقُوَّةٖ وَٱسۡمَعُواْۖ قَالُواْ سَمِعۡنَا وَعَصَيۡنَا وَأُشۡرِبُواْ فِي قُلُوبِهِمُ ٱلۡعِجۡلَ بِكُفۡرِهِمۡۚ قُلۡ بِئۡسَمَا يَأۡمُرُكُم بِهِۦٓ إِيمَٰنُكُمۡ إِن كُنتُم مُّؤۡمِنِينَ
Các ngươi hãy nhớ lại khi TA thiết lập giao ước cho các ngươi rằng các ngươi phải theo Musa và đón nhận những gì Y mang đến từ nơi Allah, và TA đã nhấc cao quả núi Saina' lên bên trên các ngươi đe dọa các ngươi và phán bảo các ngươi: hãy nắm thật chắc những gì mà TA đã ban xuống cho các ngươi trong Kinh Tawrah bằng sự nghe theo và nỗ lực chấp hành mệnh lệnh, bằng không TA sẽ cho quả núi đè lên các ngươi. Nhưng họ nói: chúng tôi nghe bằng đôi tai nhưng chúng tôi không làm. Hình ảnh con bò đã ăn sâu vào trong trái tim của họ bởi sự vô đức tin của họ. Này Muhammad, Ngươi hãy bảo họ: nếu các ngươi là những người có đức tin thì thật xấu xa thay cho đức tin khiến các ngươi phủ nhận Allah bởi lẽ đức tin đích thực không đi cùng với sự vô đức tin.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• اليهود أعظم الناس حسدًا؛ إذ حملهم حسدهم على الكفر بالله وردِّ ما أنزل، بسبب أن الرسول صلى الله عليه وسلم لم يكن منهم.
Người Do Thái là người có lòng đố kỵ nhất trong nhân loại, vì lòng đố kỵ họ đã phủ nhận Allah và phủ nhận những gì Ngài mặc khải. Họ phủ nhận Muhammad là bởi vì họ đố kỵ Người không phải là dân tộc của họ.

• أن الإيمان الحق بالله تعالى يوجب التصديق بكل ما أَنزل من كتب، وبجميع ما أَرسل من رسل.
Đức tin thực sự nơi Allah bắt buộc phải tin tất cả những gì được Ngài ban xuống từ các Kinh Sách của Ngài, và phải tin tất các vị Thiên Sứ được Ngài cử phái đến.

• من أعظم الظلم الإعراض عن الحق والهدى بعد معرفته وقيام الأدلة عليه.
Một trong những hành vi sai trái nhất là phủ nhận sự thật sau khi đã thừa nhận nó và đã có những bằng chứng rõ rệt về nó.

• من عادة اليهود نقض العهود والمواثيق، وهذا ديدنهم إلى اليوم.
Một trong những bản chất của người Do Thái là đi ngược lại với Giao Ước của Allah, và đó là tôn giáo của họ cho đến ngày nay.


قُلۡ إِن كَانَتۡ لَكُمُ ٱلدَّارُ ٱلۡأٓخِرَةُ عِندَ ٱللَّهِ خَالِصَةٗ مِّن دُونِ ٱلنَّاسِ فَتَمَنَّوُاْ ٱلۡمَوۡتَ إِن كُنتُمۡ صَٰدِقِينَ
Này hỡi Nabi Muhammad! Ngươi hãy nói với những người Do Thái rằng nếu Thiên Đàng ở cõi Đời Sau là nơi chỉ dành riêng cho họ chứ không cho ai khác trong nhân loại thì họ hãy mong cho được chết sớm để đạt được điều đó sớm hơn và để khỏi mệt mỏi nơi cõi trần nếu họ là những người nói thật về điều mà họ đã khẳng định.
التفاسير العربية:
وَلَن يَتَمَنَّوۡهُ أَبَدَۢا بِمَا قَدَّمَتۡ أَيۡدِيهِمۡۚ وَٱللَّهُ عَلِيمُۢ بِٱلظَّـٰلِمِينَ
Chắc chắn sẽ không bao giờ họ dám mong được chết sớm bởi những tội lỗi mà họ đã làm trên thế gian từ việc vô đức tin nơi Allah, phủ nhận các vị Thiên Sứ của Ngài và bóp méo các Kinh Sách của Ngài; và Allah biết rõ những kẻ làm điều sai quấy và cả những ai khác ngoài họ và Ngài chắc chắn sẽ thưởng phạt công bằng tương thích với hành động của họ.
التفاسير العربية:
وَلَتَجِدَنَّهُمۡ أَحۡرَصَ ٱلنَّاسِ عَلَىٰ حَيَوٰةٖ وَمِنَ ٱلَّذِينَ أَشۡرَكُواْۚ يَوَدُّ أَحَدُهُمۡ لَوۡ يُعَمَّرُ أَلۡفَ سَنَةٖ وَمَا هُوَ بِمُزَحۡزِحِهِۦ مِنَ ٱلۡعَذَابِ أَن يُعَمَّرَۗ وَٱللَّهُ بَصِيرُۢ بِمَا يَعۡمَلُونَ
Này Nabi Muhammad, Người sẽ thấy những người Do Thái là những kẻ tham sống sợ chết hơn những ai khác trong nhân loại cho dù cuộc sống trần gian có rẻ mạt thế nào, không, họ còn tham sống hơn cả những người thờ đa thần, những kẻ mà chúng không tin nơi sự Phục sinh và Phán xét trong khi họ là dân Kinh Sách, họ tin nơi sự Phục sinh và Phán xét. Mỗi người của họ đều mong ước được sống thọ đến một ngàn năm tuổi nhưng cho dù họ có sống thọ lâu đến mấy thì họ cũng không thể thoát khỏi sự trừng phạt của Allah. Ngài am tường tất cả mọi hành động mà chúng đã làm bởi vì không có bất cứ điều gì có thể che giấu được Ngài và Ngài sẽ trừng phạt họ thích đáng.
التفاسير العربية:
قُلۡ مَن كَانَ عَدُوّٗا لِّـجِبۡرِيلَ فَإِنَّهُۥ نَزَّلَهُۥ عَلَىٰ قَلۡبِكَ بِإِذۡنِ ٱللَّهِ مُصَدِّقٗا لِّمَا بَيۡنَ يَدَيۡهِ وَهُدٗى وَبُشۡرَىٰ لِلۡمُؤۡمِنِينَ
Này Nabi Muhammad, Ngươi hãy nói với những người Do Thái đã nói: "quả thật đại Thiên Thần Jibril là kẻ thù của chúng tôi": những ai là kẻ thù của Jibril - bởi vì Y mang Kinh Qur'an xuống đặt vào trái tim của Ngươi nhằm xác nhận những gì trong các Thiên Kinh trước như Tawrah và Injil và để hướng dẫn đến với điều tốt đẹp đồng thời làm một nguồn tin vui cho những người có đức tin về những gì mà Allah đã chuẩn bị cho họ nơi Thiên Đàng - thì họ là những kẻ lầm lạc.
التفاسير العربية:
مَن كَانَ عَدُوّٗا لِّلَّهِ وَمَلَـٰٓئِكَتِهِۦ وَرُسُلِهِۦ وَجِبۡرِيلَ وَمِيكَىٰلَ فَإِنَّ ٱللَّهَ عَدُوّٞ لِّلۡكَٰفِرِينَ
Ai là kẻ thù của Allah, của các vị Thiên Thần, của các vị Thiên Sứ và của hai vị đại Thiên Thần Jibril và Mika-il thì Allah chính là kẻ thù của những kẻ vô đức tin đó, và những ai mà họ là kẻ thù của Allah thì họ là những kẻ thua thiệt và thất bại quá rõ ràng.
التفاسير العربية:
وَلَقَدۡ أَنزَلۡنَآ إِلَيۡكَ ءَايَٰتِۭ بَيِّنَٰتٖۖ وَمَا يَكۡفُرُ بِهَآ إِلَّا ٱلۡفَٰسِقُونَ
Quả thật, TA đã ban xuống cho Ngươi - hỡi Nabi Muhammad - những dấu hiệu rõ ràng để chứng minh sự trung thực của Ngươi về những gì Ngươi mang đến từ sứ mạng Nabi và sự Mặc Khải, tuy nhiên, chỉ có những kẻ làm điều sai quấy và đại nghịch bất đạo mới chối bỏ tôn giáo của Allah.
التفاسير العربية:
أَوَكُلَّمَا عَٰهَدُواْ عَهۡدٗا نَّبَذَهُۥ فَرِيقٞ مِّنۡهُمۚ بَلۡ أَكۡثَرُهُمۡ لَا يُؤۡمِنُونَ
Một trong những bản chất xấu của người Do Thái là mỗi khi họ nhận lấy Giao Ước thì họ vứt bỏ nó sang một bên. Và một điều thuộc Giao Ước đó chính là tin nơi những gì mà Kinh Tawrah đã báo trước về sứ mạng Nabi của Muhammad nhưng một thành phần trong bọn họ đã gạt bỏ sự việc đó, không phải một thành phần mà đích thực đa số bọn họ đều không tin nơi những gì được Allah ban xuống bởi lẽ đức tin phải được thể hiện qua việc thực hiện và chấp hành theo Giao Ước.
التفاسير العربية:
وَلَمَّا جَآءَهُمۡ رَسُولٞ مِّنۡ عِندِ ٱللَّهِ مُصَدِّقٞ لِّمَا مَعَهُمۡ نَبَذَ فَرِيقٞ مِّنَ ٱلَّذِينَ أُوتُواْ ٱلۡكِتَٰبَ كِتَٰبَ ٱللَّهِ وَرَآءَ ظُهُورِهِمۡ كَأَنَّهُمۡ لَا يَعۡلَمُونَ
Khi Muhammad đến với họ trên cương vị là một vị Thiên Sứ của Allah ăn khớp với những gì được báo trước trong Kinh Tawrah thì một phần thành phần của họ phủ nhận, họ ném điều đó ra sau lưng họ giống như họ không biết không hay gì cả, họ hành động giống như những kẻ ngu dốt không hiểu gì từ sự chân lý và nguồn chỉ đạo cho nên họ không quan tâm và bất cần.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• المؤمن الحق يرجو ما عند الله من النعيم المقيم، ولهذا يفرح بلقاء الله ولا يخشى الموت.
Người có đức tin đích thực luôn hy vọng những gì ở nơi Allah từ cõi hạnh phúc bất tận nên y vui mừng cho việc gặp gỡ Allah và y không hề sợ đối mặt với cái chết.

• حِرص اليهود على الحياة الدنيا حتى لو كانت حياة حقيرة مهينة غير كريمة.
Người Do Thái nỗ lực hết mình cho đời sống trần tục này ngay cả cho dù cuộc sống trần tục có hèn hạ và đáng khinh.

• أنّ من عادى أولياء الله المقربين منه فقد عادى الله تعالى.
Ai căm thù các vị Wali của Allah thì người đó đã căm thù Allah.

• إعراض اليهود عن نبوة محمد صلى الله عليه وسلم بعدما عرفوا تصديقه لما في أيديهم من التوراة.
Người Do Thái phủ nhận sứ mạng Nabi của Muhammad sau khi đã biết Người đích thực là vị Nabi được nói trong các Kinh Sách.

• أنَّ من لم ينتفع بعلمه صح أن يوصف بالجهل؛ لأنه شابه الجاهل في جهله.
Ai mà sự hiệu biết của y không mang lại lợi ích gì cho y thì y được mô tả là kẻ ngu dốt bởi vì y cũng giống như kẻ không hiểu biết gì.


وَٱتَّبَعُواْ مَا تَتۡلُواْ ٱلشَّيَٰطِينُ عَلَىٰ مُلۡكِ سُلَيۡمَٰنَۖ وَمَا كَفَرَ سُلَيۡمَٰنُ وَلَٰكِنَّ ٱلشَّيَٰطِينَ كَفَرُواْ يُعَلِّمُونَ ٱلنَّاسَ ٱلسِّحۡرَ وَمَآ أُنزِلَ عَلَى ٱلۡمَلَكَيۡنِ بِبَابِلَ هَٰرُوتَ وَمَٰرُوتَۚ وَمَا يُعَلِّمَانِ مِنۡ أَحَدٍ حَتَّىٰ يَقُولَآ إِنَّمَا نَحۡنُ فِتۡنَةٞ فَلَا تَكۡفُرۡۖ فَيَتَعَلَّمُونَ مِنۡهُمَا مَا يُفَرِّقُونَ بِهِۦ بَيۡنَ ٱلۡمَرۡءِ وَزَوۡجِهِۦۚ وَمَا هُم بِضَآرِّينَ بِهِۦ مِنۡ أَحَدٍ إِلَّا بِإِذۡنِ ٱللَّهِۚ وَيَتَعَلَّمُونَ مَا يَضُرُّهُمۡ وَلَا يَنفَعُهُمۡۚ وَلَقَدۡ عَلِمُواْ لَمَنِ ٱشۡتَرَىٰهُ مَا لَهُۥ فِي ٱلۡأٓخِرَةِ مِنۡ خَلَٰقٖۚ وَلَبِئۡسَ مَا شَرَوۡاْ بِهِۦٓ أَنفُسَهُمۡۚ لَوۡ كَانُواْ يَعۡلَمُونَ
Và khi chúng bỏ tôn giáo của Allah, đi theo những thứ mà Shaytan đã dối gạt và bịa đặt rằng nó đến từ quyền lực của Sulayman và cho rằng quyền lực của Người có được là bùa chú (pháp thuật và bùa ngải) nhưng Sulayman không hề vô đức tin bởi việc cho đi bùa chú như người Do Thái đã khẳng định mà chính những tên Shaytan đã phủ nhận đức tin khi họ dạy nhân loại bùa chú. Những tên Shaytan đã dạy loài người bùa chú, thứ mà đã được ban xuống cho hai vị Thiên Thần Harut và Marut tại thành phố Babylon (I-rắc) để làm điều Fitnah (sự cám dỗ và thử thách) nhân loại. Và hai vị Thiên Thần này không dạy bùa chú cho bất cứ ai ngoại trừ đã cảnh báo và trình bày rõ với lời rằng chúng tôi chỉ là sự cám dỗ và thử thách cho nhân loại cho nên chớ đừng vô đức tin với việc học bùa chú. Tuy nhiên, những ai không chấp nhận lời khuyên răn của hai vị Thiên Thần đó thì đã học bùa chú từ họ và trong thuật bùa chú có loại chuyên làm chia cách hai vợ chồng và gieo sự thù ghét giữa đôi vợ chồng. Và những người dùng thuật bùa chú không thể gây hại được bất cứ ai trừ phi có phép của Allah. Những người học thuật bùa chú chỉ mang lại điều thiệt hại cho bản thân chứ không mang lại lợi ích gì cho họ; và những người Do Thai đó đã đối lấy bùa chú với Kinh Sách của Allah cho nên vào Đời Sau họ sẽ không có được bất cứ phần phước nào cả; thật xấu xa thay cho những kẻ đã đổi chác lời mặc khải và giáo lý của Allah với thuật bùa chú, nếu họ biết điều tệ hại và xấu xa đó.
التفاسير العربية:
وَلَوۡ أَنَّهُمۡ ءَامَنُواْ وَٱتَّقَوۡاْ لَمَثُوبَةٞ مِّنۡ عِندِ ٱللَّهِ خَيۡرٞۚ لَّوۡ كَانُواْ يَعۡلَمُونَ
Giá như những người Do Thái chịu tin và kính sợ Allah một cách chân thật, họ chấp hành các mệnh lệnh của Ngài và từ bỏ những điều trái lệnh Ngài thì chắc chắn Allah đã ban cho họ phần thưởng tốt đẹp hơn, nếu như họ biết điều đó.
التفاسير العربية:
يَـٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ لَا تَقُولُواْ رَٰعِنَا وَقُولُواْ ٱنظُرۡنَا وَٱسۡمَعُواْۗ وَلِلۡكَٰفِرِينَ عَذَابٌ أَلِيمٞ
Allah phán bảo những người có đức tin lựa chọn các ngôn từ khi nói chuyện với Thiên Sứ của Allah rằng họ chớ nói với Người bằng tiếng "Ra-'ina" có nghĩa là 'hãy lắng nghe chúng tôi" nhưng đồng thời cũng mang nghĩa khùng điên và ngu muội. Bởi vì người Do Thái thường bóp méo tiếng nói cũng như nội dung ý nghĩa nhằm để nhạo báng Thiên Sứ của Allah nên Allah cấm dùng tiếng nói mang những hàm ý xấu khi nói chuyện với Thiên Sứ của Allah để khỏi rơi vào hành vi xúc phạm Người, Ngài ra lệnh cho những người bề tôi có đức tin của Ngài hãy dùng tiếng Unzhurna (hãy đợi chúng tôi) để thay cho Ra-'ina bởi vì tiếng Unzhurna không mang hàm ý xấu nào khác ngoài nghĩa gốc của nó. Và những kẻ vô đức tin nơi Allah sẽ bị trừng phạt đau đớn.
التفاسير العربية:
مَّا يَوَدُّ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ مِنۡ أَهۡلِ ٱلۡكِتَٰبِ وَلَا ٱلۡمُشۡرِكِينَ أَن يُنَزَّلَ عَلَيۡكُم مِّنۡ خَيۡرٖ مِّن رَّبِّكُمۡۚ وَٱللَّهُ يَخۡتَصُّ بِرَحۡمَتِهِۦ مَن يَشَآءُۚ وَٱللَّهُ ذُو ٱلۡفَضۡلِ ٱلۡعَظِيمِ
Những người vô đức tin dù là dân Kinh sách hay những người thờ đa thần đều không thích điều tốt đẹp nào từ nơi Thượng Đế của các ngươi được ban xuống cho các ngươi dù nhiều hay ít. Tuy nhiên, Allah quyết định ban sứ mạng Nabi và lời mặc khải cũng như đức tin Iman cho bất kỳ ai Ngài muốn trong đám bề tôi của Ngài. Và Allah là Đấng có vô tận hồng ân vĩ đại, và việc vị Thiên Sứ được dựng lên và việc Kinh Sách được ban xuống đều là từ hồng phúc của Ngài.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• سوء أدب اليهود مع أنبياء الله حيث نسبوا إلى سليمان عليه السلام تعاطي السحر، فبرّأه الله منه، وأَكْذَبَهم في زعمهم.
Sự vô phép của người Do Thái trong cách nói năng và hành xử với các vị Nabi của Allah, họ cho rằng Nabi Sulayman là người đã truyền lại thuật bùa chú, Allah đã giải oan cho Người và phủ nhận lời khẳng định của họ.

• أن السحر له حقيقة وتأثير في العقول والأبدان، والساحر كافر، وحكمه القتل.
Thuật bùa chú là thật và nó thực sự có tác động đến tâm trí và cơ thể, người dùng thuật bùa chú là kẻ vô đức tin và giới luật qui định kẻ làm bùa chú phải bị tử hình.

• لا يقع في ملك الله تعالى شيء من الخير والشر إلا بإذنه وعلمه تعالى.
Mọi điều tốt, xấu không xảy ra trừ phi có phép của Allah.

• سد الذرائع من مقاصد الشريعة، فكل قول أو فعل يوهم أمورًا فاسدة يجب تجنبه والبعد عنه.
Ngăn chặn những gì có thể dẫn đến điều trái lệnh Allah là mục đích của giáo lý Islam, cho nên, mọi lời nói, hành động có thể dẫn đến tội lỗi và trái lệnh Allah phải được tránh xa.

• أن الفضل بيد الله تعالى وهو الذي يختص به من يشاء برحمته وحكمته.
Mọi hồng phúc đều ở nơi bàn tay của Allah, Ngài muốn ban hồng phúc của Ngài cho ai Ngài muốn bởi lòng nhân từ và sự anh minh của Ngài.


۞مَا نَنسَخۡ مِنۡ ءَايَةٍ أَوۡ نُنسِهَا نَأۡتِ بِخَيۡرٖ مِّنۡهَآ أَوۡ مِثۡلِهَآۗ أَلَمۡ تَعۡلَمۡ أَنَّ ٱللَّهَ عَلَىٰ كُلِّ شَيۡءٖ قَدِيرٌ
Allah cho biết rằng việc Ngài xóa bỏ một điều luật nào trong câu Kinh Qur'an hoặc xóa bỏ lời câu Kinh và làm cho con người quên đi câu Kinh đó thì chắc chắn Ngài sẽ mang đến một câu Kinh khác hoặc một giáo lý khác tốt đẹp hơn cho đời này và Đời Sau hoặc Ngài sẽ mang đến một câu Kinh có giá trị ngang bằng với câu Kinh cũ. Tất cả đều do kiến thức vô hạn và sự anh minh tuyệt đối của Allah, và Ngươi (Muhammad) chẳng lẽ không biết rằng Allah là Đấng Toàn Năng trên tất cả mọi sự việc, Ngài muốn làm gì tùy ý Ngài và Ngài quyết định điều gì tùy ý Ngài hay sao?.
التفاسير العربية:
أَلَمۡ تَعۡلَمۡ أَنَّ ٱللَّهَ لَهُۥ مُلۡكُ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِۗ وَمَا لَكُم مِّن دُونِ ٱللَّهِ مِن وَلِيّٖ وَلَا نَصِيرٍ
Này hỡi Nabi Muhammad! Chắc chắn Ngươi biết rõ rằng Allah là Đấng Chủ Tể của các tầng trời và trái đất, Ngài muốn quyết định điều gì tùy ý Ngài, ra lệnh bất cứ điều gì tùy ý Ngài, Ngài cấm điều gì Ngài muốn và ban hành điều luật nào Ngài muốn, Ngài xóa bỏ điều gì Ngài không thích và giữ lại điều gì Ngài hài lòng, không ai có quyền can thiệp, chỉ một mình Ngài duy nhất có toàn quyền và toàn năng trên tất cả mọi thứ.
التفاسير العربية:
أَمۡ تُرِيدُونَ أَن تَسۡـَٔلُواْ رَسُولَكُمۡ كَمَا سُئِلَ مُوسَىٰ مِن قَبۡلُۗ وَمَن يَتَبَدَّلِ ٱلۡكُفۡرَ بِٱلۡإِيمَٰنِ فَقَدۡ ضَلَّ سَوَآءَ ٱلسَّبِيلِ
Hỡi những người có đức tin! Không phải là việc của các ngươi khi mà các ngươi cứ vặn hỏi Thiên Sứ Muhammad của các ngươi giống như cư dân của Musa đã vặn hỏi Y, chẳng hạn họ đã đòi hỏi Musa hãy cho họ nhìn thấy Allah một cách công khai (chương 4 - Al-Nisa', câu 153). Và người nào từ sự có đức tin đổi thành vô đức tin thì kẻ đó thực sự đã đi lệch khỏi con đường Ngay Chính, đó là con đường của Islam.
التفاسير العربية:
وَدَّ كَثِيرٞ مِّنۡ أَهۡلِ ٱلۡكِتَٰبِ لَوۡ يَرُدُّونَكُم مِّنۢ بَعۡدِ إِيمَٰنِكُمۡ كُفَّارًا حَسَدٗا مِّنۡ عِندِ أَنفُسِهِم مِّنۢ بَعۡدِ مَا تَبَيَّنَ لَهُمُ ٱلۡحَقُّۖ فَٱعۡفُواْ وَٱصۡفَحُواْ حَتَّىٰ يَأۡتِيَ ٱللَّهُ بِأَمۡرِهِۦٓۗ إِنَّ ٱللَّهَ عَلَىٰ كُلِّ شَيۡءٖ قَدِيرٞ
Đa số người dân kinh sách tức những người Do Thái và Thiên Chúa luôn mong muốn các ngươi quay trở lại tình trạng vô đức tin giống như tình trạng các ngươi đã từng thờ phượng các bục tượng, nguyên nhân là vì lòng ganh tị nơi bản thân chúng; chúng mong muốn điều đó sau khi việc Nabi Muhammad mang đến Bức Thông Điệp từ nơi Allah đã được chứng minh rõ ràng là sự thật ở nơi chúng. Bởi vậy, các ngươi hãy lượng thứ cho chúng - hỡi những người có đức tin - về những việc làm của chúng, và các ngươi hãy bỏ qua cho sự thiếu hiểu biết của chúng cũng như lòng dạ xấu xa của chúng cho tới khi Allah ban hành mệnh lệnh của Ngài xuống - những người vô đức tin sẽ lựa chọn giữa Islam và đóng thuế hoặc chiến tranh - Quả thật Allah là Đấng Toàn Năng trên tất cả mọi thứ, không có bất cứ thứ gì có thể khiến Ngài bất lực.
التفاسير العربية:
وَأَقِيمُواْ ٱلصَّلَوٰةَ وَءَاتُواْ ٱلزَّكَوٰةَۚ وَمَا تُقَدِّمُواْ لِأَنفُسِكُم مِّنۡ خَيۡرٖ تَجِدُوهُ عِندَ ٱللَّهِۗ إِنَّ ٱللَّهَ بِمَا تَعۡمَلُونَ بَصِيرٞ
Các ngươi hãy chu đáo thực hiện các lễ nguyện Salah, các ngươi hãy chỉnh chu các Rukun của nó, các Wajib của nó và các Sunnah của nó; các ngươi hãy xuất Zakah phần tài sản của các ngươi cho những đối tượng được hưởng theo qui định; tất cả mọi việc làm ngoan đạo và thiện tốt mà các ngươi đã làm trên thế gian này là những thứ mà các ngươi đã gửi đi trước cho bản thân của các ngươi ở Đời Sau và chắc chắn các ngươi sẽ có được những ân phước của những việc làm đó của các ngươi ở nơi Allah vào Ngày Phán Xét, bởi quả thật Allah nhìn thấy hết tất cả những gì các ngươi làm và Ngài sẽ ban thưởng thích đáng.
التفاسير العربية:
وَقَالُواْ لَن يَدۡخُلَ ٱلۡجَنَّةَ إِلَّا مَن كَانَ هُودًا أَوۡ نَصَٰرَىٰۗ تِلۡكَ أَمَانِيُّهُمۡۗ قُلۡ هَاتُواْ بُرۡهَٰنَكُمۡ إِن كُنتُمۡ صَٰدِقِينَ
Những người Do Thái và những người Thiên Chúa luôn cho rằng Thiên Đàng là dành riêng cho họ. Những người Do Thái thì bảo: không ai vào được Thiên Đàng ngoại trừ người Do Thái, những người Thiên Chúa thì bảo: không ai vào được Thiên Đàng ngoại trừ người Thiên Chúa. Tuy nhiên, đó chỉ là những mơ ước hão huyền, nó sẽ không bao giờ trở thành hiện thực. Ngươi - Muhammad, hãy đáp lại lời của chúng: nào các ngươi hãy đưa ra các bằng chứng về điều các ngươi khẳng định quả quyết nếu các ngươi là những người nói thật.
التفاسير العربية:
بَلَىٰۚ مَنۡ أَسۡلَمَ وَجۡهَهُۥ لِلَّهِ وَهُوَ مُحۡسِنٞ فَلَهُۥٓ أَجۡرُهُۥ عِندَ رَبِّهِۦ وَلَا خَوۡفٌ عَلَيۡهِمۡ وَلَا هُمۡ يَحۡزَنُونَ
Chỉ những ai toàn tâm, toàn ý hướng về Allah đồng thời luôn hoàn thành tốt trong nghĩa vụ thờ phượng Ngài, đi theo đúng sự hướng dẫn của vị Thiên Sứ của Ngài thì mới được vào Thiên Đàng, cho dù là họ là nhóm người nào đi chăng nữa, họ sẽ được phần ban thưởng ở nơi Thượng Đế của họ, họ sẽ không lo sợ về những gì ở tương lai của cõi Đời Sau và họ cũng sẽ không buồn phiền về những gì mà họ đã mất trên cõi trần. Và những điều này chỉ được chứng thực đối với ai qui phục Islam sau khi Nabi Muhammad đến.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أن الأمر كله لله، فيبدل ما يشاء من أحكامه وشرائعه، ويبقي ما يشاء منها، وكل ذلك بعلمه وحكمته.
Rằng tất cả mọi sự việc đều thuộc quyền của Allah, Ngài muốn thay đổi hay giữ lại bất cứ qui định hay giáo lý nào Ngài muốn tùy ý Ngài, tất cả đều nằm trong kiến thức và sự chí minh của Ngài.

• حَسَدُ كثيرٍ من أهل الكتاب هذه الأمة، لما خصَّها الله من الإيمان واتباع الرسول، حتى تمنوا رجوعها إلى الكفر كما كانت.
Đa số người dân kinh sách đều ganh tị với cộng đồng này khi mà Allah đã dành đặc ân cho nó bằng đức tin Iman và sự đi theo vị Thiên Sứ của Ngài, họ ganh tị đến nỗi mong muốn nó trở lại vô đức tin như lúc trước đó nó đã từng.


وَقَالَتِ ٱلۡيَهُودُ لَيۡسَتِ ٱلنَّصَٰرَىٰ عَلَىٰ شَيۡءٖ وَقَالَتِ ٱلنَّصَٰرَىٰ لَيۡسَتِ ٱلۡيَهُودُ عَلَىٰ شَيۡءٖ وَهُمۡ يَتۡلُونَ ٱلۡكِتَٰبَۗ كَذَٰلِكَ قَالَ ٱلَّذِينَ لَا يَعۡلَمُونَ مِثۡلَ قَوۡلِهِمۡۚ فَٱللَّهُ يَحۡكُمُ بَيۡنَهُمۡ يَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِ فِيمَا كَانُواْ فِيهِ يَخۡتَلِفُونَ
Người Do Thái nói người Thiên Chúa giáo không phải là tôn giáo đúng, còn người Thiên Chúa thì nói người Do Thái không đi trên tôn giáo đúng trong khi tất cả họ đều đọc các Kinh Sách được Allah ban xuống và trong các Kinh sách đó đều có lệnh bảo rằng phải tin nơi tất cả các vị Nabi không được phép phân biệt giữa họ; và những người thờ đa thần cũng nói những lời tương tự giống như họ khi mà họ phủ nhận các vị Thiên Sứ cũng như những gì được ban xuống cho họ từ các Kinh Sách. Rồi đây, vào Ngày Phục Sinh, Allah sẽ phán xét và phân xử giữa những điều mà họ mâu thuẫn với nhau, Ngài sẽ xét xử công minh và chỉ những ai có đức tin nơi tất cả những gì Ngài ban xuống thì mới là những người thành đạt.
التفاسير العربية:
وَمَنۡ أَظۡلَمُ مِمَّن مَّنَعَ مَسَٰجِدَ ٱللَّهِ أَن يُذۡكَرَ فِيهَا ٱسۡمُهُۥ وَسَعَىٰ فِي خَرَابِهَآۚ أُوْلَـٰٓئِكَ مَا كَانَ لَهُمۡ أَن يَدۡخُلُوهَآ إِلَّا خَآئِفِينَۚ لَهُمۡ فِي ٱلدُّنۡيَا خِزۡيٞ وَلَهُمۡ فِي ٱلۡأٓخِرَةِ عَذَابٌ عَظِيمٞ
Không có người nào bất công và sai trái hơn những kẻ đã ngăn cản việc tụng niệm Allah trong các Nhà Nguyện của Ngài, họ ngăn dâng lễ nguyện Salah, tụng niệm và đọc Qur'an trong đó và họ cố tìm cách đập phá và làm hư hại các Nhà Nguyện. Những kẻ này, không để cho họ vào các Nhà Nguyện trừ phi phải làm cho họ sợ bởi sự vô đức tin và sự phá hại của họ. Những kẻ này không những bị hạ nhục trên cõi trần mà rồi đây họ sẽ phải bị trừng phạt nặng nề ở cõi Đời Sau cho việc đã ngăn cản mọi người đến các Nhà Nguyện của Allah.
التفاسير العربية:
وَلِلَّهِ ٱلۡمَشۡرِقُ وَٱلۡمَغۡرِبُۚ فَأَيۡنَمَا تُوَلُّواْ فَثَمَّ وَجۡهُ ٱللَّهِۚ إِنَّ ٱللَّهَ وَٰسِعٌ عَلِيمٞ
Hướng đông, hướng tây và những gì giữa hai hướng đó đều thuộc vương quyền của Allah, Ngài ra lệnh cho các bề tôi của Ngài với những gì Ngài muốn, và cho dù các ngươi có quay mặt về hướng nào thì các ngươi cũng đều hướng về Ngài cả, dù các ngươi hướng về ngôi đền Al-Maqdis (Palestine) hay ngôi đền K'abah (Makkah) hoặc các ngươi hướng về nơi khác do nhầm lẫn hoặc do không thể xác định được thì các ngươi không bị bắt tội bởi lẽ tất cả mọi hướng đều thuộc về Allah. Quả thật, Allah bao la phủ lấy tất cả tạo vật của Ngài bằng lòng nhân từ và sự dễ dãi của Ngài và Ngài hằng biết tất cả tâm niệm cũng như các hành vi và việc làm của họ.
التفاسير العربية:
وَقَالُواْ ٱتَّخَذَ ٱللَّهُ وَلَدٗاۗ سُبۡحَٰنَهُۥۖ بَل لَّهُۥ مَا فِي ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِۖ كُلّٞ لَّهُۥ قَٰنِتُونَ
Những người Do Thái, những người Thiên Chúa giáo và những người thờ đa thần nói: Allah có một đứa con trai. Allah vinh quang và thiêng liêng hơn điều họ nói, Ngài không cần đến tạo vật, chỉ những ai cần con cái mới có con chứ riêng Ngài không cần, tất cả vũ trụ và vạn vật đều thuộc về Ngài, tất cả vạn vật đều là những bề tôi của Ngài, tất cả phải thần phục và tuân thủ theo mệnh lệnh và ý muốn của Ngài.
التفاسير العربية:
بَدِيعُ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِۖ وَإِذَا قَضَىٰٓ أَمۡرٗا فَإِنَّمَا يَقُولُ لَهُۥ كُن فَيَكُونُ
Allah là Đấng đã thiết lập và sáng tạo ra các tầng trời và trái đất và những gì giữa chúng từ cái "không". Và khi Ngài muốn định điều gì thì Ngài chỉ cần phán với lệnh "hãy thành" thì nó sẽ thành theo ý muốn của Ngài.
التفاسير العربية:
وَقَالَ ٱلَّذِينَ لَا يَعۡلَمُونَ لَوۡلَا يُكَلِّمُنَا ٱللَّهُ أَوۡ تَأۡتِينَآ ءَايَةٞۗ كَذَٰلِكَ قَالَ ٱلَّذِينَ مِن قَبۡلِهِم مِّثۡلَ قَوۡلِهِمۡۘ تَشَٰبَهَتۡ قُلُوبُهُمۡۗ قَدۡ بَيَّنَّا ٱلۡأٓيَٰتِ لِقَوۡمٖ يُوقِنُونَ
Những người không biết gì từ nhóm dân Kinh Sách và những người thờ đa thần nói: tại sao Allah không nói chuyện trực tiếp với bọn ta hoặc tại sao không có một dấu hiệu nào đặc biệt dành riêng cho bọn ta? Và những lời nói này cũng đã được những kẻ vô đức tin trước họ đã nói khi các vị Thiên Sứ được cử phái đến. Quả thật TA đã trình bày rõ ràng các lời mặc khải của TA cho những người vững tin nơi điều chân lý, họ không ngờ vực và cũng không bị cản trở bởi bất cứ chướng ngại vật nào.
التفاسير العربية:
إِنَّآ أَرۡسَلۡنَٰكَ بِٱلۡحَقِّ بَشِيرٗا وَنَذِيرٗاۖ وَلَا تُسۡـَٔلُ عَنۡ أَصۡحَٰبِ ٱلۡجَحِيمِ
Này hỡi Nabi Muhammad! Quả thật TA đã cử Ngươi đến với tôn giáo chân lý, không có gì phải ngờ vực, để Ngươi báo tin mừng về Thiên Đàng cho những người có đức tin và cảnh báo về Hỏa Ngục cho những kẻ vô đức tin; và Ngươi chỉ là một người truyền đạt lại một cách công khai nên Ngươi sẽ không bị chất vất về việc những kẻ không tin nơi Ngươi khi chúng bị đày trong Hỏa Ngục.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• الكفر ملة واحدة وإن اختلفت أجناس أهله وأماكنهم، فهم يتشابهون في كفرهم وقولهم على الله بغير علم.
Những kẻ vô đức tin cùng một đảng phái cho dù họ có khác nhau về thành phần, tôn giáo và nơi chốn. Tất cả họ đều giống nhau trong tình trạng vô đức tin và trong lời nói về Allah một cách không có kiến thức.

• أعظم الناس جُرْمًا وأشدهم إثمًا من يصد عن سبيل الله، ويمنع من أراد فعل الخير.
Những kẻ tội lỗi và xấu xa nhất trong nhân loại là những kẻ ngăn cản con đường của Allah và ngăn cản những ai muốn làm điều thiện tốt.

• تنزّه الله تعالى عن الصاحبة والولد، فهو سبحانه لا يحتاج لخلقه.
Allah là Đấng Tối Cao và Thiêng Liêng nên Ngài không cần đến người đồng hành và con cái, Ngài không cần đến tạo vật, chỉ có tạo vật cần đến Ngài.


وَلَن تَرۡضَىٰ عَنكَ ٱلۡيَهُودُ وَلَا ٱلنَّصَٰرَىٰ حَتَّىٰ تَتَّبِعَ مِلَّتَهُمۡۗ قُلۡ إِنَّ هُدَى ٱللَّهِ هُوَ ٱلۡهُدَىٰۗ وَلَئِنِ ٱتَّبَعۡتَ أَهۡوَآءَهُم بَعۡدَ ٱلَّذِي جَآءَكَ مِنَ ٱلۡعِلۡمِ مَا لَكَ مِنَ ٱللَّهِ مِن وَلِيّٖ وَلَا نَصِيرٍ
Allah phán nói chuyện với vị Nabi của Ngài - Muhammad với lời cảnh báo: Những người Do Thái và những người Thiên Chúa sẽ không bao giờ bằng lòng với Ngươi cho tới khi nào Ngươi từ bỏ Islam và đi theo tôn giáo của chúng. Nếu Ngươi hoặc những ai đi theo Ngươi từ bỏ Islam sau khi sự thật rõ ràng đã đến với Ngươi thì chắc chắn Ngươi và những người đó sẽ không bao giờ tìm thấy sự cứu giúp nào để thoát khỏi sự trừng phạt của Allah. Đây chỉ là sự trình bày về sự nguy hại cho việc từ bỏ chân lý để đến với điều sai trái và ngụy tạo.
التفاسير العربية:
ٱلَّذِينَ ءَاتَيۡنَٰهُمُ ٱلۡكِتَٰبَ يَتۡلُونَهُۥ حَقَّ تِلَاوَتِهِۦٓ أُوْلَـٰٓئِكَ يُؤۡمِنُونَ بِهِۦۗ وَمَن يَكۡفُرۡ بِهِۦ فَأُوْلَـٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡخَٰسِرُونَ
Kinh Qur'an phán rằng nhóm người dân Kinh Sách chịu làm theo những gì được ban xuống trong các Kinh Sách và họ đi theo đúng với lẽ đi theo thì chắc chắn họ sẽ tìm thấy trong các Kinh Sách đó những bằng chứng rõ rệt về sự trung thực của Nabi Muhammad và chắc chắn họ sẽ nhanh chóng có đức tin nơi Người; còn một nhóm khác cứ ngoan cố ở lại trên sự vô đức tin thì họ là những kẻ thua thiệt và thất bại.
التفاسير العربية:
يَٰبَنِيٓ إِسۡرَـٰٓءِيلَ ٱذۡكُرُواْ نِعۡمَتِيَ ٱلَّتِيٓ أَنۡعَمۡتُ عَلَيۡكُمۡ وَأَنِّي فَضَّلۡتُكُمۡ عَلَى ٱلۡعَٰلَمِينَ
Hỡi dân chúng Isra-el! Các ngươi hãy nhớ lại các Ân Huệ mà Allah đã ban cho các ngươi cũng như những gì mà Ngài đã ưu đãi các ngươi hơn hẳn những nhóm người khác trong nhân loại từ sứ mạng Nabi, vương quyền và những ưu đãi đặc biệt khác.
التفاسير العربية:
وَٱتَّقُواْ يَوۡمٗا لَّا تَجۡزِي نَفۡسٌ عَن نَّفۡسٖ شَيۡـٔٗا وَلَا يُقۡبَلُ مِنۡهَا عَدۡلٞ وَلَا تَنفَعُهَا شَفَٰعَةٞ وَلَا هُمۡ يُنصَرُونَ
Các ngươi hãy đặt giữa các ngươi và sự trừng phạt của Ngày Phán Xét một vách chắn phòng ngừa qua việc đi theo các mệnh lệnh của Allah và tránh những điều ngắn cấm của Ngài, bởi quả thật vào Ngày hôm đó, không ai có thể giúp ích được cho ai, và cũng không có sự thế thân hay chuộc tội cho nhau, sự can thiệp trong Ngày hôm đó sẽ trở nên vô ích cho dù kẻ can thiệp có vị trí cao cả thế nào, và Ngày hôm đó sẽ không có một thế lực che chở và phù hộ nào ngoài Allah cả.
التفاسير العربية:
۞وَإِذِ ٱبۡتَلَىٰٓ إِبۡرَٰهِـۧمَ رَبُّهُۥ بِكَلِمَٰتٖ فَأَتَمَّهُنَّۖ قَالَ إِنِّي جَاعِلُكَ لِلنَّاسِ إِمَامٗاۖ قَالَ وَمِن ذُرِّيَّتِيۖ قَالَ لَا يَنَالُ عَهۡدِي ٱلظَّـٰلِمِينَ
Và hãy nhớ lại lúc Allah thử thách Nabi Ibrahim qua những trọng trách và giáo luật và Người đã hoàn thành tốt đẹp những thử thách của Ngài. Allah phán với Nabi Ibrahim: quả thật, TA sẽ để Ngươi làm một tấm gương đức hạnh và tốt đẹp cho nhân loại. Nabi Ibrahim nói: và xin Ngài - ôi Thượng Đế của bề tôi - hãy ban điều đó cho cả thế hệ con cháu của bề tôi nữa tức hãy để con cháu của bề tôi là những vị Imam cho nhân loại noi theo. Allah phán đáp lại lời của Nabi Ibrahim: lời hứa của TA dành cho Ngươi về vấn đề Imam trong đạo không dính dấp tới những kẻ làm điều sai quấy trong đám thế hệ con cháu của Ngươi.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ جَعَلۡنَا ٱلۡبَيۡتَ مَثَابَةٗ لِّلنَّاسِ وَأَمۡنٗا وَٱتَّخِذُواْ مِن مَّقَامِ إِبۡرَٰهِـۧمَ مُصَلّٗىۖ وَعَهِدۡنَآ إِلَىٰٓ إِبۡرَٰهِـۧمَ وَإِسۡمَٰعِيلَ أَن طَهِّرَا بَيۡتِيَ لِلطَّآئِفِينَ وَٱلۡعَٰكِفِينَ وَٱلرُّكَّعِ ٱلسُّجُودِ
Và nhớ lại lúc Allah qui định lấy Ngôi Đền K'abah ở Nhà nguyện Al-Haram làm nơi tới lui thăm viếng cho những ai có trái tim hướng về Nó, TA đã làm cho Nó thành một nơi an toàn cho họ, không ai có thể gây hại đến họ tại nơi đó. TA đã phán với nhân loại: các ngươi hãy lấy chỗ của tảng đá mà Ibrahim đã đứng trên đó trong lúc xây Ngôi Đền K'abah (được gọi là Maqam Ibrahim) làm nơi dâng lễ nguyện Salah. Và TA đã dặn Ibrahim và con trai của Y - Isma-'il phải tẩy sạch Nhà nguyện Alharam khỏi những thứ dơ bẩn và luôn giữ Nó thanh khiết khỏi những bục tượng để tiếp đón những ai muốn thờ phượng TA trong đó bằng việc đi vòng quanh Ngôi Đền K'abah, ở lại trong đó lánh trần để chuyên tâm thờ phượng, dâng lễ nguyện Salah và các việc làm hành đạo khác.
التفاسير العربية:
وَإِذۡ قَالَ إِبۡرَٰهِـۧمُ رَبِّ ٱجۡعَلۡ هَٰذَا بَلَدًا ءَامِنٗا وَٱرۡزُقۡ أَهۡلَهُۥ مِنَ ٱلثَّمَرَٰتِ مَنۡ ءَامَنَ مِنۡهُم بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِۚ قَالَ وَمَن كَفَرَ فَأُمَتِّعُهُۥ قَلِيلٗا ثُمَّ أَضۡطَرُّهُۥٓ إِلَىٰ عَذَابِ ٱلنَّارِۖ وَبِئۡسَ ٱلۡمَصِيرُ
Này hỡi Nabi! Ngươi hãy nhớ lại lúc Ibrahim cầu nguyện Thượng Đế của Y, nói: Lạy Thượng Đế của bề tôi, xin Ngài làm cho thành phố này (Makkah) thành nơi an bình khỏi những điều nguy hại, xin Ngài nuôi sống cư dân của nó với các loại hoa quả và cây trái, đặc biệt đối với những ai có đức tin nơi Ngài và cõi Đời Sau. Allah phán: còn ai trong số chúng vô đức tin thì TA sẽ cho y hưởng thụ trên cõi trần trong một lúc ngắn ngủi rồi vào cõi Đời Sau TA sẽ cho lôi cổ y ném vào trong Hỏa Ngục, một nơi ở tồi tệ nhất mà y phải quay trở về vào Ngày Phán Xét.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أن المسلمين مهما فعلوا من خير لليهود والنصارى؛ فلن يرضوا حتى يُخرجوهم من دينهم، ويتابعوهم على ضلالهم.
Những người tín đồ Muslim cho dù có làm điều tốt đẹp như thế nào cho người Do Thái và Thiên Chúa thì họ cũng không bao giờ hài lòng cho tới khi những người tín đồ Muslim đi theo tôn giáo và sự lầm lạc của họ.

• الإمامة في الدين لا تُنَال إلا بصحة اليقين والصبر على القيام بأمر الله تعالى.
Vai trò Imam trong đạo sẽ không thể có được trừ phi một người có đức tin kiên định đồng thời kiên nhẫn trong việc chấp hành và phục tùng mệnh lệnh của Allah.

• بركة دعوة إبراهيم عليه السلام للبلد الحرام، حيث جعله الله مكانًا آمنًا للناس، وتفضّل على أهله بأنواع الأرزاق.
Phúc đức từ lời cầu nguyện của Ibrahim cho xứ Makkah khi mà Allah đã làm cho xứ sở này thành một nơi an bình cho nhân loại và đã ban cho cư dân của nó với các loại trái quả.


وَإِذۡ يَرۡفَعُ إِبۡرَٰهِـۧمُ ٱلۡقَوَاعِدَ مِنَ ٱلۡبَيۡتِ وَإِسۡمَٰعِيلُ رَبَّنَا تَقَبَّلۡ مِنَّآۖ إِنَّكَ أَنتَ ٱلسَّمِيعُ ٱلۡعَلِيمُ
Này hỡi Nabi! Ngươi hãy nhớ lại lúc Ibrahim và Isma-'il xây móng Ngôi Đền K'abah và hai người họ đã cầu nguyện trong sự hạ mình và kính cẩn: lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài chấp nhận việc làm của bầy tôi - trong đó có việc xây dựng Ngôi Đền này - bởi quả thật Ngài là Đấng đáp lại lời cầu nguyện và Ngài là Đấng am tường những việc làm cũng như tâm niệm của bầy tôi.
التفاسير العربية:
رَبَّنَا وَٱجۡعَلۡنَا مُسۡلِمَيۡنِ لَكَ وَمِن ذُرِّيَّتِنَآ أُمَّةٗ مُّسۡلِمَةٗ لَّكَ وَأَرِنَا مَنَاسِكَنَا وَتُبۡ عَلَيۡنَآۖ إِنَّكَ أَنتَ ٱلتَّوَّابُ ٱلرَّحِيمُ
Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài làm cho bầy tôi thành những người luôn thần phục mệnh lệnh của Ngài, bầy tôi không tổ hợp với Ngài bất cứ điều gì, xin Ngài hãy tạo ra từ thế hệ con cháu của bầy tôi một cộng đồng thần phục mệnh lệnh của Ngài, xin Ngài chỉ dạy bầy tôi cách thức thờ phượng Ngài và xin xí xóa các hành vi sai trái của bầy tôi cũng như sự thiếu sót của bề tôi trong thờ phượng Ngài; bởi quả thật, Ngài là Đấng Hằng Tha Thứ cho những ai biết quay đầu sám hối với Ngài và là Đấng Rất Mực Khoan Dung với họ.
التفاسير العربية:
رَبَّنَا وَٱبۡعَثۡ فِيهِمۡ رَسُولٗا مِّنۡهُمۡ يَتۡلُواْ عَلَيۡهِمۡ ءَايَٰتِكَ وَيُعَلِّمُهُمُ ٱلۡكِتَٰبَ وَٱلۡحِكۡمَةَ وَيُزَكِّيهِمۡۖ إِنَّكَ أَنتَ ٱلۡعَزِيزُ ٱلۡحَكِيمُ
Lạy Thượng Đế của bầy tôi, xin Ngài hãy dựng lệnh trong chúng (con cháu của bầy tôi) một vị Thiên Sứ xuất từ chúng để y đọc các Lời Mặc Khải của Ngài cho họ nghe và để y dạy chúng Qur'an và Sunnah, và để y thanh sạch chúng khỏi tội Shirk và sự lầm lạc; quả thật Ngài là Đấng Quyền Năng trên tất cả mọi thứ và Ngài là Đấng Anh Minh và Khôn Ngoan trong mọi phán quyết.
التفاسير العربية:
وَمَن يَرۡغَبُ عَن مِّلَّةِ إِبۡرَٰهِـۧمَ إِلَّا مَن سَفِهَ نَفۡسَهُۥۚ وَلَقَدِ ٱصۡطَفَيۡنَٰهُ فِي ٱلدُّنۡيَاۖ وَإِنَّهُۥ فِي ٱلۡأٓخِرَةِ لَمِنَ ٱلصَّـٰلِحِينَ
Không một ai quay mặt bỏ đi trước tôn giáo của Ibrahim để đến với các tôn giáo khác ngoại trừ những ai bất công với chính bản thân họ do sự ngu dốt không hiểu được điều chân lý, họ đã rời bỏ chân lý để đến với sự lầm lạc, rời bỏ sự hài lòng của Allah đến với sự phẫn nộ của Ngài. Quả thật, TA đã chọn Ibrahim làm vị Thiên Sứ và Khaleel trên thế gian này và ở cõi Đời Sau Y sẽ là một trong những người ngoan đạo, những người mà họ đã chấp hành tốt các mệnh lệnh và chỉ thị của Allah, và họ sẽ là những người ở trên tầng cao cấp nhất.
التفاسير العربية:
إِذۡ قَالَ لَهُۥ رَبُّهُۥٓ أَسۡلِمۡۖ قَالَ أَسۡلَمۡتُ لِرَبِّ ٱلۡعَٰلَمِينَ
Allah đã lựa chọn Ibrahim bởi vì sự nhanh chóng đến với Islam của Người lúc Ngài phán với Người: "hãy thành tâm thờ phượng TA, hãy thần phục một mình TA" thì Người liền đáp: bề tôi xin thần phục Allah, Đấng Tạo Hóa và Trông Coi vạn vật.
التفاسير العربية:
وَوَصَّىٰ بِهَآ إِبۡرَٰهِـۧمُ بَنِيهِ وَيَعۡقُوبُ يَٰبَنِيَّ إِنَّ ٱللَّهَ ٱصۡطَفَىٰ لَكُمُ ٱلدِّينَ فَلَا تَمُوتُنَّ إِلَّا وَأَنتُم مُّسۡلِمُونَ
Nabi Ibrahim dặn con cái của Người với lời: "Bề tôi thần phục Thượng Đế của vũ trụ và muôn loại". Nabi Y'aqub cũng dặn các con của Người với lời: này các con, quả thật Allah đã chon cho các con tôn giáo Islam, bởi thế các con hãy nắm chặt lấy nó cho tới khi các con đối mặt với cái chết, các con hãy là những người thần phục Allah một cách công khai và thầm kín.
التفاسير العربية:
أَمۡ كُنتُمۡ شُهَدَآءَ إِذۡ حَضَرَ يَعۡقُوبَ ٱلۡمَوۡتُ إِذۡ قَالَ لِبَنِيهِ مَا تَعۡبُدُونَ مِنۢ بَعۡدِيۖ قَالُواْ نَعۡبُدُ إِلَٰهَكَ وَإِلَٰهَ ءَابَآئِكَ إِبۡرَٰهِـۧمَ وَإِسۡمَٰعِيلَ وَإِسۡحَٰقَ إِلَٰهٗا وَٰحِدٗا وَنَحۡنُ لَهُۥ مُسۡلِمُونَ
Chẳng lẽ các ngươi không nghe được thông tin về Y'aqub lúc lâm chung đã hỏi các các con của mình: các ngươi sẽ thờ gì sau khi cha chết? Các con của Y'aqub đều trả lời: chúng con sẽ thờ Thượng Đế của cha, Thượng Đế của tổ tiên cha Ibrahim, Isma-'il và Is-haq, một Thượng Đế Duy Nhất, chúng con không tổ hợp với Ngài bất cứ ai (vật gì), và chúng con chỉ thần phục một mình Ngài.
التفاسير العربية:
تِلۡكَ أُمَّةٞ قَدۡ خَلَتۡۖ لَهَا مَا كَسَبَتۡ وَلَكُم مَّا كَسَبۡتُمۡۖ وَلَا تُسۡـَٔلُونَ عَمَّا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ
Đó là cộng đồng đã đi qua trước thời các ngươi, họ đã gửi đi trước những việc làm của họ, họ sẽ nhận được điều tốt hoặc điều xấu tùy theo việc làm của họ; còn các ngươi cũng sẽ nhận được kết quả tốt hay xấu tùy theo việc làm của các ngươi, các ngươi sẽ không bị chất vất về các việc làm của họ và họ cũng sẽ không bị chất vất về việc làm của các ngươi, người này không bị bắt tội thay cho người kia mà mỗi người sẽ chỉ nhận được kết quả đúng theo những gì mà y đã gửi đi trước, bởi thế, các ngươi chớ bận tâm đến những gì đã qua của cộng đồng trước vì không một ai hưởng được lòng thương xót của Allah ngoại trừ những việc làm thiện tốt và ngoan đạo (được Ngài qui định).
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• المؤمن المتقي لا يغتر بأعماله الصالحة، بل يخاف أن ترد عليه، ولا تقبل منه، ولهذا يُكْثِرُ سؤالَ الله قَبولها.
Những người có đức tin luôn có lòng Taqwa (sợ Allah) sẽ không tự đắc với việc làm ngoan đạo và thiện tốt của mình mà họ luôn lo sợ bị từ chối, luôn lo sợ không được chấp nhận nên họ thường xuyên cầu xin Allah chấp nhận các việc làm của họ.

• بركة دعوة أبي الأنبياء إبراهيم عليه السلام، حيث أجاب الله دعاءه وجعل خاتم أنبيائه وأفضل رسله من أهل مكة.
Ân phúc lời cầu nguyện của người cha của các vị Nabi - Ibrahim khi Allah đáp lại lời nguyện cầu của Người và ban nhiều phúc lành cho cư dân Makkah và chọn một người trong dân chúng nơi đó thành một vị Thiên Sứ, vị Nabi cuối cùng của Ngài.

• دين إبراهيم عليه السلام هو الملة الحنيفية الموافقة للفطرة، لا يرغب عنها ولا يزهد فيها إلا الجاهل المخالف لفطرته.
Tôn giáo của Nabi Ibrahim là tôn giáo thuần khiết tương thích với qui luật tự nhiên mà Allah tạo ra, nó không thái quá trừ những người kẻ thiếu hiểu biết đi ngược lại với qui luật tự nhiên.

• مشروعية الوصية للذرية باتباع الهدى، وأخذ العهد عليهم بالتمسك بالحق والثبات عليه.
Được phép dặn dò con cháu đi theo sự Chỉ Đạo, dặn dò chúng bám lấy điều chân lý và vững bước trên nó.


وَقَالُواْ كُونُواْ هُودًا أَوۡ نَصَٰرَىٰ تَهۡتَدُواْۗ قُلۡ بَلۡ مِلَّةَ إِبۡرَٰهِـۧمَ حَنِيفٗاۖ وَمَا كَانَ مِنَ ٱلۡمُشۡرِكِينَ
Người Do Thái nói với cộng động này (cộng đồng Islam): các người hãy là những người Do Thái để được hướng dẫn đúng Chính Đạo; còn người Thiên Chúa thì nói: hãy là những người Thiên Chúa để được hướng dẫn đúng Chính Đạo. Ngươi - Muhammad hãy đáp lại lời họ: không chúng tôi chỉ đi theo tôn giáo của Ibrahim, một tôn giáo chân lý và Ibrahim không phải là người thuộc những người đã tổ hợp với Allah một ai (vật gì).
التفاسير العربية:
قُولُوٓاْ ءَامَنَّا بِٱللَّهِ وَمَآ أُنزِلَ إِلَيۡنَا وَمَآ أُنزِلَ إِلَىٰٓ إِبۡرَٰهِـۧمَ وَإِسۡمَٰعِيلَ وَإِسۡحَٰقَ وَيَعۡقُوبَ وَٱلۡأَسۡبَاطِ وَمَآ أُوتِيَ مُوسَىٰ وَعِيسَىٰ وَمَآ أُوتِيَ ٱلنَّبِيُّونَ مِن رَّبِّهِمۡ لَا نُفَرِّقُ بَيۡنَ أَحَدٖ مِّنۡهُمۡ وَنَحۡنُ لَهُۥ مُسۡلِمُونَ
Hỡi những người có đức tin! Các ngươi hãy nói với những kẻ cho rằng mình đang đi trên con đường chân lý nhưng thực chất là con đường lầm lạc và ngụy tạo từ những người Do Thái và Thiên Chúa: Chúng tôi tin nơi Allah; nơi Qur'an được ban xuống cho chúng tôi; chúng tôi tin nơi những gì được ban xuống cho Nabi Ibrahim và con cháu của Người: Isma-'il, Is-haq và Y'aqub; chúng tôi tin nơi những điều được ban xuống cho các vị Nabi từ con cháu của Nabi Y'aqub; chúng tôi tin nơi Kinh Tawrah được ban xuống cho Nabi Musa, nơi Kinh Injil được ban xuống cho Nabi Ysa; và chúng tôi tin nơi tất cả các Kinh Sách được Allah ban xuống cho tất cả các vị Nabi của Ngài, chúng tôi không kỳ thị phân biệt bất kỳ ai trong số họ, chúng tôi không tin một số vị và phủ nhận một số mà chúng tôi tin toàn bộ; và chúng tôi là những người chỉ thần phục một mình Allah.
التفاسير العربية:
فَإِنۡ ءَامَنُواْ بِمِثۡلِ مَآ ءَامَنتُم بِهِۦ فَقَدِ ٱهۡتَدَواْۖ وَّإِن تَوَلَّوۡاْ فَإِنَّمَا هُمۡ فِي شِقَاقٖۖ فَسَيَكۡفِيكَهُمُ ٱللَّهُۚ وَهُوَ ٱلسَّمِيعُ ٱلۡعَلِيمُ
Nếu những người Do Thái và những người Thiên Chúa giáo cũng như những nhóm người vô đức tin khác có đức tin giống như đức tin của các ngươi - hỡi những người có đức tin - thì họ đã được hướng dẫn đến với chính đạo được Allah hài lòng; nhưng nếu họ quay lưng với đức tin qua việc phủ nhận toàn bộ các vị Nabi hoặc một số vị thì họ mới chính là những kẻ chia rẽ và tạo ra mối thù hằn. Tuy nhiên, Ngươi - Muhammad - chớ buồn lòng bởi một mình Allah thôi là đã đủ giúp Ngươi đương đầu với hành vi gây hại của họ, chỉ một mình Ngài thôi là đã đủ giúp Ngươi giành thắng lợi trước họ bởi lẽ Ngài là Đấng Hằng Nghe những lời nói của họ và biết hết tâm niệm và việc làm của họ.
التفاسير العربية:
صِبۡغَةَ ٱللَّهِ وَمَنۡ أَحۡسَنُ مِنَ ٱللَّهِ صِبۡغَةٗۖ وَنَحۡنُ لَهُۥ عَٰبِدُونَ
Các ngươi hãy bám lấy tôn giáo của Allah, tôn giáo mà Ngài đã ban cho các ngươi thích ứng với quy luật tự nhiên một cách công khai và thầm kín. Quả thật, không có tôn giáo nào tốt hơn tôn giáo của Allah và nó phù hợp với bản chất tự nhiên, tôn giáo hướng thiện và ngăn cản điều xấu. Thế nên, các ngươi hãy nói: chúng tôi là những người thờ phượng một mình Allah, chúng tôi không tổ hợp Ngài với bất kỳ ai (vật gì) khác ngoài Ngài.
التفاسير العربية:
قُلۡ أَتُحَآجُّونَنَا فِي ٱللَّهِ وَهُوَ رَبُّنَا وَرَبُّكُمۡ وَلَنَآ أَعۡمَٰلُنَا وَلَكُمۡ أَعۡمَٰلُكُمۡ وَنَحۡنُ لَهُۥ مُخۡلِصُونَ
Hỡi Nabi Muhammad! Ngươi hãy nói với bọn chúng - dân Kinh Sách: chẳng lẽ các người lại tranh luận vợi chúng tôi rằng các người ở nơi Allah tốt hơn chúng tôi bởi vì tôn giáo của các người cổ xưa hơn và Kinh sách của các người được ban xuống trước, quả thật điều đó không mang lại ích lợi gì cho các người ở nơi Allah, quả thật Allah là Thượng Đế của toàn bộ chứ không phải là Thượng Đế của riêng nhóm người nào đó. Và chúng tôi sẽ bị chất vất về việc làm của chúng tôi còn các người sẽ bị chất vất về việc làm của các người, mỗi người đều sẽ có được kết quả tương thích với việc làm của y; và chúng tôi một lòng tôn thờ và tuân phục một mình Allah, chúng tôi không tổ hợp với Ngài bất cứ điều gì.
التفاسير العربية:
أَمۡ تَقُولُونَ إِنَّ إِبۡرَٰهِـۧمَ وَإِسۡمَٰعِيلَ وَإِسۡحَٰقَ وَيَعۡقُوبَ وَٱلۡأَسۡبَاطَ كَانُواْ هُودًا أَوۡ نَصَٰرَىٰۗ قُلۡ ءَأَنتُمۡ أَعۡلَمُ أَمِ ٱللَّهُۗ وَمَنۡ أَظۡلَمُ مِمَّن كَتَمَ شَهَٰدَةً عِندَهُۥ مِنَ ٱللَّهِۗ وَمَا ٱللَّهُ بِغَٰفِلٍ عَمَّا تَعۡمَلُونَ
Hỡi dân Kinh Sách! Chẳng lẽ các ngươi cho rằng Ibrahim, Isma-'il, Is-haq, Y'aqub và các vị Nabi thuộc con cháu của Y'aqub đều là đạo Do Thái hay Thiên Chúa? Ngươi - Muhammad hãy đáp lại lời của chúng: há các người biết hơn Allah chăng? Bởi quả thật họ đã khẳng định rằng đều thuộc môn phái của họ thực ra điều là giả dối,bởi vì sự phục sinh họ và cái chết của họ trước lúc ban xuống kinh Tawrah (cho Musa) và Kinh Injil (cho Ysa). Do đó tất cả đều là lời nói dối và bịa đặt cho Allah và các vị Thiên Sứ của Ngài. Họ đã che giấu sự thật được ban xuống cho họ, và không ai sai quấy hơn kẻ che giấu sự thật từ nơi Allah đã được ban xuống. Và Allah không phải không hay biết về những gì các ngươi đã làm, chắc chắn rồi đây Ngài sẽ thưởng phạt một cách thỏa đáng.
التفاسير العربية:
تِلۡكَ أُمَّةٞ قَدۡ خَلَتۡۖ لَهَا مَا كَسَبَتۡ وَلَكُم مَّا كَسَبۡتُمۡۖ وَلَا تُسۡـَٔلُونَ عَمَّا كَانُواْ يَعۡمَلُونَ
Cộng đồng đó đã ra đi trước các ngươi, những việc làm của họ cũng đã gửi đi trước việc làm của các ngươi, họ sẽ hưởng thành quả từ các việc làm của họ còn các ngươi sẽ hướng thành quả theo các việc làm của các ngươi, họ không bị chất vấn về việc làm của các ngươi và các ngươi cũng không bị chất vất bởi việc làm của họ, không ai thay tội cho ai, không ai can thiệp được giùm ai mà mỗi người sẽ hưởng được thành quả cho những gì mình đã gửi đi trước.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أن دعوى أهل الكتاب أنهم على الحق لا تنفعهم وهم يكفرون بما أنزل الله على نبيه محمد صلى الله عليه وسلم.
Việc người dân Kinh Sách tự xưng đi trên con đường chân lý sẽ không mang lại lợi ích gì cho họ trong khi họ phủ nhận điều Allah ban xuống cho Nabi Muhammad.

• سُمِّي الدين صبغة لظهور أعماله وسَمْته على المسلم كما يظهر أثر الصبغ في الثوب.
Tôn giáo Islam được gọi là sắc màu bởi vì nó thể hiện các việc làm và người Muslim được nhuốm sắc màu tôn giáo giống như chiếc áo được nhuộm màu.

• أن الله تعالى قد رَكَزَ في فطرةِ خلقه جميعًا الإقرارَ بربوبيته وألوهيته، وإنما يضلهم عنها الشيطان وأعوانه.
Allah đã tạo ra con người trên đức tin bản năng, đó là thừa nhận Ngài là Đấng Tạo Hóa, Đấng Chi Phối và Đấng đáng được thờ phượng, tuy nhiên, Shaytan đã dẫn dắt họ lệch lạc.


۞سَيَقُولُ ٱلسُّفَهَآءُ مِنَ ٱلنَّاسِ مَا وَلَّىٰهُمۡ عَن قِبۡلَتِهِمُ ٱلَّتِي كَانُواْ عَلَيۡهَاۚ قُل لِّلَّهِ ٱلۡمَشۡرِقُ وَٱلۡمَغۡرِبُۚ يَهۡدِي مَن يَشَآءُ إِلَىٰ صِرَٰطٖ مُّسۡتَقِيمٖ
Những kẻ dốt nát, tư duy kém thuộc tộc Do Thái và những ai tương tự thuộc nhóm Munafiq (đạo đức giả) sẽ nói: "Những người Muslim sao lại không tiếp tục hướng mặt về Qiblah (hướng quay mặt khi lễ nguyện Salah) như trước đây họ đã từng hướng?" Ngươi - hỡi Nabi - hãy nói đáp lại lời của chúng: "Hướng đông, hướng tây và các hướng khác đều là của một mình Allah. Ngài hướng bất cứ ai trong đám nô lệ của Ngài về bất cứ hướng nào tùy Ngài, và Ngài muốn hướng dẫn bất cứ ai tùy Ngài trong đám nô lệ của Ngài đến với con đường ngay chính, tức không bị uốn khúc, quanh co (bởi sự lầm lạc).
التفاسير العربية:
وَكَذَٰلِكَ جَعَلۡنَٰكُمۡ أُمَّةٗ وَسَطٗا لِّتَكُونُواْ شُهَدَآءَ عَلَى ٱلنَّاسِ وَيَكُونَ ٱلرَّسُولُ عَلَيۡكُمۡ شَهِيدٗاۗ وَمَا جَعَلۡنَا ٱلۡقِبۡلَةَ ٱلَّتِي كُنتَ عَلَيۡهَآ إِلَّا لِنَعۡلَمَ مَن يَتَّبِعُ ٱلرَّسُولَ مِمَّن يَنقَلِبُ عَلَىٰ عَقِبَيۡهِۚ وَإِن كَانَتۡ لَكَبِيرَةً إِلَّا عَلَى ٱلَّذِينَ هَدَى ٱللَّهُۗ وَمَا كَانَ ٱللَّهُ لِيُضِيعَ إِيمَٰنَكُمۡۚ إِنَّ ٱللَّهَ بِٱلنَّاسِ لَرَءُوفٞ رَّحِيمٞ
Giống như việc TA (Allah) đã qui định cho các ngươi hướng Qiblah mà TA đã hài lòng cho các ngươi, TA đã làm cho các ngươi thành một cộng đồng Wasat tức một cộng đồng công bằng, chính trực và dung hòa so với tất cả các cộng đồng khác về đức tin, sự thờ phượng và cách cư xử giao tiếp; mục đích để vào Ngày Phục Sinh các ngươi trở thành nhân chứng cho các vị Thiên Sứ của Allah rằng họ đã hoàn thành sứ mạng truyền bá mà Allah đã ra lệnh và để Thiên Sứ Muhammad làm nhân chứng cho các ngươi rằng Y đã hoàn thành sứ mạng truyền đạt đến với các ngươi. Và việc TA thay đổi hướng Qiblah từ Masjid Al-Aqsa (Palestine) sang hướng Masjid Al-Haram (Makkak) là muốn biết ai hài lòng, tuân thủ theo định luật của Allah và noi theo Thiên Sứ và ai là kẻ phản đạo, chạy theo dục vọng và không qui phục giáo luật của Allah. Lệnh thay đổi hướng Qiblah đúng là một sự việc lớn lao nhưng đối với ai được Allah phù hộ cho đức tin vững chắc thì sự việc đó không làm cho họ ngần ngại trong việc tuân thủ bởi những qui định Allah đã ban hành đều phải được tuân thủ tuyệt đối. Và Allah không hề đánh mất phần công sức cho đức tin của các ngươi trước đó tức lễ nguyện Salah đã thực hiện trước khi thay đổi hướng Qiblah. Quả thật, Allah luôn nhân từ và thương xót nhân loại, Ngài không hề gây khó dễ họ lại càng không đánh mất phần thưởng qua việc thiện mà họ đã làm.
التفاسير العربية:
قَدۡ نَرَىٰ تَقَلُّبَ وَجۡهِكَ فِي ٱلسَّمَآءِۖ فَلَنُوَلِّيَنَّكَ قِبۡلَةٗ تَرۡضَىٰهَاۚ فَوَلِّ وَجۡهَكَ شَطۡرَ ٱلۡمَسۡجِدِ ٱلۡحَرَامِۚ وَحَيۡثُ مَا كُنتُمۡ فَوَلُّواْ وُجُوهَكُمۡ شَطۡرَهُۥۗ وَإِنَّ ٱلَّذِينَ أُوتُواْ ٱلۡكِتَٰبَ لَيَعۡلَمُونَ أَنَّهُ ٱلۡحَقُّ مِن رَّبِّهِمۡۗ وَمَا ٱللَّهُ بِغَٰفِلٍ عَمَّا يَعۡمَلُونَ
Quả thật, TA (Allah) đã thấy Ngươi - hỡi Nabi Muhammad - đã ngẩn đầu nhìn lên trời bằng ánh mắt khao khát được thiên khải về vấn đề đổi Qiblah theo hướng mà Ngươi mong muốn. Bởi thế, TA đã cho lệnh Ngươi hướng mặt về hướng mà Ngươi đã yêu thích và hài lòng - đó là Ngôi Đề Ka'bah - thay thế Masjid Al-Aqsa. Từ nay, Ngươi hãy hướng mặt mình về hướng ngôi nhà của Allah Al-Haram tại Makkah lúc lễ nguyện Salah. Và các ngươi - hỡi những người có đức tin - hãy quay mặt về hướng đó khi lễ nguyện Salah. Và quả thật, những kẻ hiểu biết về Kinh Sách thuộc tộc Do Thái và Thiên Chúa đều biết rõ việc chuyển hướng Qiblah đúng thực là Chỉ Đạo được thiên khải từ Đấng Tạo Hóa của chúng, Đấng Quản Lý mọi công việc của chúng, bởi vì nó được khẳng định trong Kinh Sách của chúng. Và quả thật Allah không phải không biết những gì mà những kẻ chống đối chân lý đang làm. Thật vinh quang thay Ngài, Ngài luôn am tường va thông toàn điều đó và Ngài sẽ trừng phạt chúng thích đáng.
التفاسير العربية:
وَلَئِنۡ أَتَيۡتَ ٱلَّذِينَ أُوتُواْ ٱلۡكِتَٰبَ بِكُلِّ ءَايَةٖ مَّا تَبِعُواْ قِبۡلَتَكَۚ وَمَآ أَنتَ بِتَابِعٖ قِبۡلَتَهُمۡۚ وَمَا بَعۡضُهُم بِتَابِعٖ قِبۡلَةَ بَعۡضٖۚ وَلَئِنِ ٱتَّبَعۡتَ أَهۡوَآءَهُم مِّنۢ بَعۡدِ مَا جَآءَكَ مِنَ ٱلۡعِلۡمِ إِنَّكَ إِذٗا لَّمِنَ ٱلظَّـٰلِمِينَ
Thề bởi Allah, cho dù Ngươi - hỡi Nabi Muhammad - có mang ra trưng bày trước những kẻ được ban cho Kinh Sách thuộc tộc Do Thái và Thiên Chúa tất cả bằng chứng và dấu lạ rằng việc thay đổi Qiblah là Chỉ Đạo từ Allah thì chúng vẫn không chịu hướng theo hướng Qiblah mà Ngươi đã được chỉ thị do bản chất tự cao tự đại không muốn theo chân lý. Và dĩ nhiên Ngươi không quay mặt về Qiblah của chúng sau khi Allah đã đổi hướng cho các ngươi; và trong họ nhóm này vẫn không chịu hướng mặt theo Qiblah của nhóm kia, bởi chúng vốn phủ nhận lẫn nhau. Và nếu Ngươi chìu theo ham muốn của chúng về vấn đề Qiblah, về giáo luật, giáo lý mà Ngươi đã nhận được Chị Đạo đích thực từ Allah thì Ngươi sẽ trở thành tên lầm lạc vì đã bỏ đi Chỉ Đạo và đi theo ham muốn. Đây là lời phán đến Nabi Muhammad về vấn đề thay đổi Qiblah, tuy nhiên, Allah đã phù hộ Y tránh phạm sai lầm; cho nên đây là lời cảnh cáo đến toàn thể tín đồ Muslim sau Người.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أن الاعتراض على أحكام الله وشرعه والتغافل عن مقاصدها دليل على السَّفَه وقلَّة العقل.
* Việc bác bỏ giáo lý của Allah, giáo luật được Ngài qui định và xao lãng các mục tiêu đó là minh chứng cho sự thiếu hiểu biết và tư duy kém.

• فضلُ هذه الأمة وشرفها، حيث أثنى عليها الله ووصفها بالوسطية بين سائر الأمم.
* Ân phúc và sự cao quý của cộng đồng này được Allah ca ngợi và miêu tả là cộng đồng công bằng, chính trực và trung hòa so với tất cả các cộng đồng khác.

• التحذير من متابعة أهل الكتاب في أهوائهم؛ لأنهم أعرضوا عن الحق بعد معرفته.
* Cảnh báo việc đi theo dục vọng của những dân Kinh Sách, bởi họ đã bác bỏ chân lý sau khi đã nhận biết nó.

• جواز نَسْخِ الأحكام الشرعية في الإسلام زمن نزول الوحي، حيث نُسِخَ التوجه إلى بيت المقدس، وصار إلى المسجد الحرام.
* Luật Islam cho phép thay đổi qui luật đã định trong thời gian còn mặc khải, cụ thể là thay đổi hướng Qiblah từ Masjid Al-Aqsa sang hướng Masjid Al-Haram.


ٱلَّذِينَ ءَاتَيۡنَٰهُمُ ٱلۡكِتَٰبَ يَعۡرِفُونَهُۥ كَمَا يَعۡرِفُونَ أَبۡنَآءَهُمۡۖ وَإِنَّ فَرِيقٗا مِّنۡهُمۡ لَيَكۡتُمُونَ ٱلۡحَقَّ وَهُمۡ يَعۡلَمُونَ
Những người được ban cho Kinh Sách từ các học giả thuộc tộc Do Thái và Thiên Chúa đều hiểu rõ việc thay đổi Qiblah là một dấu hiệu chứng minh sứ mạng của Muhammad đối với họ, giống như họ nhận biết rõ về con cái họ vậy, họ biết phân biệt được con cái với ai khác chúng, dù vậy vẫn có một nhóm người trong bọn họ cố tình giấu che chân lý mà Người đã mang đến, với lòng ganh tỵ họ đã ngoan cố đối nghịch trong khi họ biết đó là chân lý.
التفاسير العربية:
ٱلۡحَقُّ مِن رَّبِّكَ فَلَا تَكُونَنَّ مِنَ ٱلۡمُمۡتَرِينَ
Đây đích thực là chân lý đến từ Thượng Đế Ngươi - hỡi Thiên Sứ Muhammad - thế nên, Ngươi chớ là kẻ nghi ngờ về sự thật của nó.
التفاسير العربية:
وَلِكُلّٖ وِجۡهَةٌ هُوَ مُوَلِّيهَاۖ فَٱسۡتَبِقُواْ ٱلۡخَيۡرَٰتِۚ أَيۡنَ مَا تَكُونُواْ يَأۡتِ بِكُمُ ٱللَّهُ جَمِيعًاۚ إِنَّ ٱللَّهَ عَلَىٰ كُلِّ شَيۡءٖ قَدِيرٞ
Mỗi cộng đồng đều có một hướng riêng để họ quay mặt về đó bằng thể xác hoặc chỉ bằng tấm lòng được Allah qui định phù hợp cho họ. Cho dù có khác nhau về hướng quay mặt nhưng tất cả đều là mệnh lệnh của Allah. Bởi thế các ngươi - hỡi những người có đức tin - hãy thi đua làm những việc làm tốt đẹp mà Allah đã ra lệnh thực hiện chúng. Và dù các ngươi có ở đâu đi chăng nữa thì Allah cũng sẽ tập trung tất cả các ngươi trở lại trong Ngày Phục Sinh để thưởng phạt mọi việc làm của các ngươi. Quả thật, Allah toàn năng trên tất cả mọi thứ, bởi thế, việc tập hợp các ngươi cũng như việc thưởng phạt các ngươi không làm Ngài bất lực.
التفاسير العربية:
وَمِنۡ حَيۡثُ خَرَجۡتَ فَوَلِّ وَجۡهَكَ شَطۡرَ ٱلۡمَسۡجِدِ ٱلۡحَرَامِۖ وَإِنَّهُۥ لَلۡحَقُّ مِن رَّبِّكَۗ وَمَا ٱللَّهُ بِغَٰفِلٍ عَمَّا تَعۡمَلُونَ
Và dù bất cứ nơi nào Ngươi đi và bất cư nơi nào Ngươi có mặt - hỡi Nabi - Ngươi cũng như tín đồ của Ngươi, mỗi khi muốn hành lễ Salah thì hãy hướng mặt về Masjid Al-Haram, bởi đó là sự thật mà Thượng Đế đã thiên khải cho Ngươi. Allah không phải không hay biết những gì các ngươi làm, ngược lại, Ngài luôn quan sát và theo dõi từng hành động của các ngươi và Ngài sẽ thưởng phạt các ngươi theo các việc làm đó.
التفاسير العربية:
وَمِنۡ حَيۡثُ خَرَجۡتَ فَوَلِّ وَجۡهَكَ شَطۡرَ ٱلۡمَسۡجِدِ ٱلۡحَرَامِۚ وَحَيۡثُ مَا كُنتُمۡ فَوَلُّواْ وُجُوهَكُمۡ شَطۡرَهُۥ لِئَلَّا يَكُونَ لِلنَّاسِ عَلَيۡكُمۡ حُجَّةٌ إِلَّا ٱلَّذِينَ ظَلَمُواْ مِنۡهُمۡ فَلَا تَخۡشَوۡهُمۡ وَٱخۡشَوۡنِي وَلِأُتِمَّ نِعۡمَتِي عَلَيۡكُمۡ وَلَعَلَّكُمۡ تَهۡتَدُونَ
Và dù từ bất cứ nơi nào Ngươi - hỡi Nabi - rời đi và muốn hành lễ Salah thì Ngươi hãy hướng mặt về Masjid Al-Haram, và dù các ngươi đang ở đâu - hỡi những người có đức tin - các ngươi hãy hướng mặt về Masjid Al-Haram khi các ngươi muốn hành lễ Salah, để thiên hạ không có chứng cứ phản bác lại các ngươi ngoại trừ những ai lầm lạc trong chúng. Và chúng vẫn tiếp tục chống đối và phản bác các ngươi bằng những lý do lố bịch, vì vậy các ngươi đừng sợ hãi chúng mà hãy sợ một mình Thượng Đế của các ngươi bằng cách thực thi theo mọi lệnh Ngài đã bảo ban các ngươi và tránh xa mọi điều Ngài đã cấm các ngươi. Quả thật, việc Allah qui định thay đổi hướng Qiblah về Ka'bah là để ban đầy đủ hồng ân cho các ngươi qua việc tách biệt các ngươi với các cộng đồng khác và để hướng các ngươi trở thành tâm điểm của nhân loại.
التفاسير العربية:
كَمَآ أَرۡسَلۡنَا فِيكُمۡ رَسُولٗا مِّنكُمۡ يَتۡلُواْ عَلَيۡكُمۡ ءَايَٰتِنَا وَيُزَكِّيكُمۡ وَيُعَلِّمُكُمُ ٱلۡكِتَٰبَ وَٱلۡحِكۡمَةَ وَيُعَلِّمُكُم مَّا لَمۡ تَكُونُواْ تَعۡلَمُونَ
Giống như TA (Allah) đã ban một hồng phúc khác cho các ngươi, đó là gởi đến cho các ngươi một Thiên Sứ xuất thân từ đồng bào của các ngươi, Y xướng đọc Qur'an cho các ngươi nghe, tẩy sạch các ngươi qua việc ra lệnh các ngươi làm những điều ân phúc, tốt lành và cấm các ngươi làm những điều khả ố và sai trái, Y dạy các ngươi Qur'an và Sunnah, dạy các ngươi mọi thứ mà các ngươi chưa từng biết về tôn giáo và thế giới trần gian của các ngươi.
التفاسير العربية:
فَٱذۡكُرُونِيٓ أَذۡكُرۡكُمۡ وَٱشۡكُرُواْ لِي وَلَا تَكۡفُرُونِ
Các ngươi hãy tưởng nhớ TA (Allah) trong lòng và bằng hành động thì TA sẽ tuyên dương, khen ngợi và phù hộ các ngươi, bởi phần thưởng tương ứng với việc làm; các ngươi hãy biết ơn TA về ân phúc mà TA đã ban cho các ngươi và các ngươi chớ bác bỏ, phủ nhận nó bằng cách sử dụng nó vào những thứ mà TA đã cấm các ngươi.
التفاسير العربية:
يَـٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ ٱسۡتَعِينُواْ بِٱلصَّبۡرِ وَٱلصَّلَوٰةِۚ إِنَّ ٱللَّهَ مَعَ ٱلصَّـٰبِرِينَ
Hỡi những người có đức tin, các ngươi hãy cầu xin TA (Allah) sự phù hộ bằng sự kiên nhẫn, lễ nguyện Salah, và bằng việc tuân thủ theo mệnh lệnh của TA, quả thật, Allah cận kề với những người biết kiên nhẫn, Ngài sẽ giúp đỡ và phù hộ họ.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• إطالة الحديث في شأن تحويل القبلة؛ لما فيه من الدلالة على نبوة محمد صلى الله عليه وسلم.
* Việc kéo dài các lời lẽ về việc thay đổi hướng Qiblah vì trong đó có bằng chứng khẳng định sứ mạng của Thiên Sứ Muhammad.

• ترك الجدال والاشتغالُ بالطاعات والمسارعة إلى الله أنفع للمؤمن عند ربه يوم القيامة.
* Việc từ bỏ tranh cãi, tập trung vào việc hành đạo cũng như nhanh chân chạy đến với Allah sẽ mang lại hữu ích cho người có đức tin nơi Thượng Đế của y vào Ngày Phán Xét.

• أن الأعمال الصالحة الموصلة إلى الله متنوعة ومتعددة، وينبغي للمؤمن أن يسابق إلى فعلها؛ طلبًا للأجر من الله تعالى.
* Quả thật, việc ngoan đạo để kết nối với Allah rất phong phú và đa dạng, người có đức tin cứ chọn một cách phù hợp với khả năng và sở thích của bản thân mình.

• عظم شأن ذكر الله -جلّ وعلا- حيث يكون ثوابه ذكر العبد في الملأ الأعلى.
* Đề cao giá trị của việc tụng niệm Allah, và phần thưởng cho việc làm này là Allah khoe người bề tôi của Ngài với các Thiên Thần trên trời.


وَلَا تَقُولُواْ لِمَن يُقۡتَلُ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِ أَمۡوَٰتُۢۚ بَلۡ أَحۡيَآءٞ وَلَٰكِن لَّا تَشۡعُرُونَ
Hỡi những người có đức tin, các ngươi chớ nói rằng những ai đã hi sinh trên chiến trường vì con đường chính nghĩa của Allah rằng họ đã chết giống như cái chết của bao người khác. Không, họ vẫn còn sống nơi Thượng Đế nhưng các ngươi không cảm nhận được cuộc sống đó, bởi đó là cuộc sống riêng biệt mà chỉ có những ai nhận được mặc khải từ Allah mới biết được nó.
التفاسير العربية:
وَلَنَبۡلُوَنَّكُم بِشَيۡءٖ مِّنَ ٱلۡخَوۡفِ وَٱلۡجُوعِ وَنَقۡصٖ مِّنَ ٱلۡأَمۡوَٰلِ وَٱلۡأَنفُسِ وَٱلثَّمَرَٰتِۗ وَبَشِّرِ ٱلصَّـٰبِرِينَ
Và chắc chắn TA sẽ thử thách các ngươi bởi đủ loại tai họa, như sợ hãi trước kẻ thù; đói khát vì thiếu lương thực; hao hụt và mất mát tài sản; hy sinh tính mạng vì chính nghĩa của Allah; mất mùa màng do đất khô cằn, nhưng Ngươi hãy báo tin mừng đi - hỡi Nabi - cho những ai biết kiên nhẫn trước bao tai nạn đó sẽ được ban cho thuận lợi ở trần gian và Đời Sau.
التفاسير العربية:
ٱلَّذِينَ إِذَآ أَصَٰبَتۡهُم مُّصِيبَةٞ قَالُوٓاْ إِنَّا لِلَّهِ وَإِنَّآ إِلَيۡهِ رَٰجِعُونَ
Đối với những người gặp phải một trong những tai nạn đã liệt kê (ở câu Kinh trước) liền nói với trái tim hài lòng và chấp nhận: Tất cả chúng ta là tài sản của Allah, Ngài muốn xử trí thế nào tùy Ngài và rồi chúng ta sẽ trở về trình diện Ngài vào Ngài Phục Sinh, Ngài là Đấng đã tạo hóa ra chúng ta, đã ban hồng phúc cho chúng ta bằng những ân huệ khác nhau và cuối cùng mọi việc của chúng ta đều kết thúc nơi Ngài.
التفاسير العربية:
أُوْلَـٰٓئِكَ عَلَيۡهِمۡ صَلَوَٰتٞ مِّن رَّبِّهِمۡ وَرَحۡمَةٞۖ وَأُوْلَـٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡمُهۡتَدُونَ
Những người được mô tả với những đức tính đó sẽ được Allah khen ngợi trước giới Thiên Thần trên trời, lòng thương xót của Allah sẽ bao trùm lên họ và họ được hướng dẫn đến với con đường Chính Đạo.
التفاسير العربية:
۞إِنَّ ٱلصَّفَا وَٱلۡمَرۡوَةَ مِن شَعَآئِرِ ٱللَّهِۖ فَمَنۡ حَجَّ ٱلۡبَيۡتَ أَوِ ٱعۡتَمَرَ فَلَا جُنَاحَ عَلَيۡهِ أَن يَطَّوَّفَ بِهِمَاۚ وَمَن تَطَوَّعَ خَيۡرٗا فَإِنَّ ٱللَّهَ شَاكِرٌ عَلِيمٌ
Quả thật, hai ngọn đồi Al-Safa và Al-Marwah là hai biểu hiệu bề nổi của Islam. Bởi thế, ai đến Makkah để hành hương Hajj hoặc 'Umrah thì y sẽ không mắc tội khi đi qua lại (được gọi là Sa'i) giữa hai ngọn đồi này. Việc phủ nhận tội ở đây nhằm khẳng định với tín đồ Muslim rằng việc đi qua lại giữa hai ngọn đồi Al-Safa và Al-Marwah là một trong các nghi thức hành hương chứ không phải là hành động mang tôi như những người Jahiliyah (tiền Islam) đã quan niệm. Ai thực hiện nó mang tính làm thêm với định tâm vì Allah, chắc chắn sẽ được Allah ghi ơn, chấp nhận việc làm đó và ban thưởng cho y, bởi Ngài là Đấng biết rõ ai là người làm tốt đáng được thưởng.
التفاسير العربية:
إِنَّ ٱلَّذِينَ يَكۡتُمُونَ مَآ أَنزَلۡنَا مِنَ ٱلۡبَيِّنَٰتِ وَٱلۡهُدَىٰ مِنۢ بَعۡدِ مَا بَيَّنَّـٰهُ لِلنَّاسِ فِي ٱلۡكِتَٰبِ أُوْلَـٰٓئِكَ يَلۡعَنُهُمُ ٱللَّهُ وَيَلۡعَنُهُمُ ٱللَّـٰعِنُونَ
Quả thật, những ai trong số những người Do Thái và Thiên Chúa đã che giấu các bằng chứng xác nhận sứ mạng và những gì được Thiên Sứ mang đến, sau khi TA (Allah) đã phơi bày cho thiên hạ biết qua Kinh Sách của chúng, là đám người bị Allah trục xuất khỏi lòng thương xót của Ngài, đồng thời bị các Thiên Thần, các vị Nabi và toàn thể nhân loại đồng cầu xin Allah xua đuổi chúng rời khỏi lòng thương xót của Ngài.
التفاسير العربية:
إِلَّا ٱلَّذِينَ تَابُواْ وَأَصۡلَحُواْ وَبَيَّنُواْ فَأُوْلَـٰٓئِكَ أَتُوبُ عَلَيۡهِمۡ وَأَنَا ٱلتَّوَّابُ ٱلرَّحِيمُ
Ngoại trừ những ai quay đầu về với Allah, ăn năn hối hận cho hành động che giấu các lời phán rõ ràng đó, cải thiện hành động thân thể lẫn nội tâm và phơi bày sự thật đã che giấu thì họ sẽ được TA chấp nhận sự sám hối đó, bởi TA là Đấng hằng tha thứ và nhân từ đối với ai biết sám hối.
التفاسير العربية:
إِنَّ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ وَمَاتُواْ وَهُمۡ كُفَّارٌ أُوْلَـٰٓئِكَ عَلَيۡهِمۡ لَعۡنَةُ ٱللَّهِ وَٱلۡمَلَـٰٓئِكَةِ وَٱلنَّاسِ أَجۡمَعِينَ
Quả thật, những người vô đức tin chết trong hiện trạng vô đức tin đó của họ thì họ sẽ bị Allah trục xuất khỏi lòng thương xót của Ngài, không những thế, các Thiên Thần và nhân loại sẽ khẩn cầu Allah xua đuổi họ rời khỏi lòng thương xót của Ngài.
التفاسير العربية:
خَٰلِدِينَ فِيهَا لَا يُخَفَّفُ عَنۡهُمُ ٱلۡعَذَابُ وَلَا هُمۡ يُنظَرُونَ
Họ sẽ mãi mãi trong sự nguyền rủa đó, không được giảm nhẹ hình phạt dù là chỉ một ngày và không được buông tha ở Đời Sau.
التفاسير العربية:
وَإِلَٰهُكُمۡ إِلَٰهٞ وَٰحِدٞۖ لَّآ إِلَٰهَ إِلَّا هُوَ ٱلرَّحۡمَٰنُ ٱلرَّحِيمُ
Và - hỡi nhân loại - Đấng Thờ Phượng đích thực của các chỉ có một mà thôi, Ngài hoàn toàn độc lập về thể xác và thuộc tính, ngoài Ngài không có đấng nào khác đáng được tôn thờ, Ngài là Đấng Al-Rahman có lòng thương xót vô hạn, nhân từ với đám nô lệ của Ngài qua việc ban phát ân phước vô số kể.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• الابتلاء سُنَّة الله تعالى في عباده، وقد وعد الصابرين على ذلك بأعظم الجزاء وأكرم المنازل.
* Thử thách là cách Allah dùng đối xử với đám nô lệ của Ngài và Ngài đã chuẩn bị phần thưởng vĩ đại ban cho những người kiên nhẫn.

• مشروعية السعي بين الصفا والمروة لمن حج البيت أو اعتمر.
*Sa-'i (đi qua lại) giữa hai ngọn đồi Al-Safa và Al-Marwah là một nghi thức đối với ai muốn hành hương Hajj và 'Umrah.

• من أعظم الآثام وأشدها عقوبة كتمان الحق الذي أنزله الله، والتلبيس على الناس، وإضلالهم عن الهدى الذي جاءت به الرسل.
* Tội lỗi lớn nhất và phải chịu hình phạt khủng khiếp nhất là tội che giấu chân lý mà Allah đã thiên khải, ngụy tạo để kéo con người rơi vào lầm lạc, rời xa chân lý mà các Thiên Sứ đã mang đến.


إِنَّ فِي خَلۡقِ ٱلسَّمَٰوَٰتِ وَٱلۡأَرۡضِ وَٱخۡتِلَٰفِ ٱلَّيۡلِ وَٱلنَّهَارِ وَٱلۡفُلۡكِ ٱلَّتِي تَجۡرِي فِي ٱلۡبَحۡرِ بِمَا يَنفَعُ ٱلنَّاسَ وَمَآ أَنزَلَ ٱللَّهُ مِنَ ٱلسَّمَآءِ مِن مَّآءٖ فَأَحۡيَا بِهِ ٱلۡأَرۡضَ بَعۡدَ مَوۡتِهَا وَبَثَّ فِيهَا مِن كُلِّ دَآبَّةٖ وَتَصۡرِيفِ ٱلرِّيَٰحِ وَٱلسَّحَابِ ٱلۡمُسَخَّرِ بَيۡنَ ٱلسَّمَآءِ وَٱلۡأَرۡضِ لَأٓيَٰتٖ لِّقَوۡمٖ يَعۡقِلُونَ
Quả thật, trong việc tạo hóa trời đất và mọi tạo vật kỳ diệu trong chúng, sự luân chuyển ngày đêm, việc những chiếc tàu chở đầy ấp hàng hóa, lương thực, quần áo và mọi thứ con người cần di chuyển lênh đênh trên mặt biển, việc Allah trút xuống những cơn mưa cứu sống những vùng đất chết để mọc lên cây cối và thảo mộc, việc sắp xếp mọi thứ phát triển và sinh soi, việc chuyển các cơn gió đi khắp mọi nơi, việc đẩy các đám mây phủ kín trời đất... tất cả là bằng chứng rõ ràng khẳng định sự tồn tại của một Thượng Đế duy nhất dành cho những ai có khói óc suy nghĩ muốn tìm kiếm bằng chứng và muốn chấp nhận sự thật.
التفاسير العربية:
وَمِنَ ٱلنَّاسِ مَن يَتَّخِذُ مِن دُونِ ٱللَّهِ أَندَادٗا يُحِبُّونَهُمۡ كَحُبِّ ٱللَّهِۖ وَٱلَّذِينَ ءَامَنُوٓاْ أَشَدُّ حُبّٗا لِّلَّهِۗ وَلَوۡ يَرَى ٱلَّذِينَ ظَلَمُوٓاْ إِذۡ يَرَوۡنَ ٱلۡعَذَابَ أَنَّ ٱلۡقُوَّةَ لِلَّهِ جَمِيعٗا وَأَنَّ ٱللَّهَ شَدِيدُ ٱلۡعَذَابِ
165- Mặc dù với các dấu hiệu rõ ràng đó, trong thiên hạ vẫn có người mù quáng tôn thờ những thần linh thay vì thờ phượng Allah, họ tự dựng lên các thần linh và tự gán chúng thành những đối tác ngang vai với Ngài, họ thương yêu các thần linh đó như tình yêu dành cho Allah. Tuy nhiên, những người có đức tin thì lại có tình yêu mãnh liệt nơi Allah hơn cả tình yêu mà những kẻ lầm lạc đã dành cho các thần linh của họ, vì họ không tổ hợp với Allah bất cứ thần linh ngang vài nào cùng với Ngài, họ thương yêu Ngài lúc hưng thịnh và cả lúc khó khăn. Còn những kẻ tổ hợp kia, họ yêu các thần linh của họ trong lúc phồn thịnh nhưng khi khó khăn thì hò lại khấn vái Allah. Và nếu như những kẻ làm điều sai quấy tận mắt nhìn thấy hinh phạt của Ngày Phục Sinh thì họ nhận biết rằng mọi quyền lực đều trong tay Allah, Ngài rất hà khắc trong việc trừng phạt đám người bất tuân; giá như họ thấy điều đó là họ chẳng dám tổ hợp với Ngài bất cứ ai.
التفاسير العربية:
إِذۡ تَبَرَّأَ ٱلَّذِينَ ٱتُّبِعُواْ مِنَ ٱلَّذِينَ ٱتَّبَعُواْ وَرَأَوُاْ ٱلۡعَذَابَ وَتَقَطَّعَتۡ بِهِمُ ٱلۡأَسۡبَابُ
166- Đó là lúc những kẻ được suy tôn tự tuyên bố cắt đứt quan hệ với những người yếu thế đi theo chúng, bởi chúng tận mắt nhìn thấy những cảnh tượng hãi hùng trong Ngày Phục Sinh và họ đã mất hết mọi hi vọng về việc được cứu rỗi.
التفاسير العربية:
وَقَالَ ٱلَّذِينَ ٱتَّبَعُواْ لَوۡ أَنَّ لَنَا كَرَّةٗ فَنَتَبَرَّأَ مِنۡهُمۡ كَمَا تَبَرَّءُواْ مِنَّاۗ كَذَٰلِكَ يُرِيهِمُ ٱللَّهُ أَعۡمَٰلَهُمۡ حَسَرَٰتٍ عَلَيۡهِمۡۖ وَمَا هُم بِخَٰرِجِينَ مِنَ ٱلنَّارِ
167- Và đám người yếu thế và đi theo nói: Ôi ước chi chúng tôi có cơ hội trở lại trần gian thì chúng tôi quyết cắt đứt quan hệ với họ giống như họ đã cắt đứt quan hệ với chúng tôi tại đây, đó là lúc đám người yếu thế thấy được hinh phạt kinh hoàng mà Allah dành trừng phạt cả họ lẫn đám người được suy tôn, cho dù họ có hối hận và hoảng sợ thì họ vẫn không thể thoát khỏi Hỏa Ngục.
التفاسير العربية:
يَـٰٓأَيُّهَا ٱلنَّاسُ كُلُواْ مِمَّا فِي ٱلۡأَرۡضِ حَلَٰلٗا طَيِّبٗا وَلَا تَتَّبِعُواْ خُطُوَٰتِ ٱلشَّيۡطَٰنِۚ إِنَّهُۥ لَكُمۡ عَدُوّٞ مُّبِينٌ
168- Hỡi nhân loại, các ngươi hãy tự do ăn uống mọi thứ có trên đất từ động vật, thực vật mà các ngươi đã thu được bằng hình thức Halal (hợp pháp), và các ngươi đừng mù quáng đi theo những lối mòn mà lũ Shaytan đã bày vẽ để dụ các ngươi, chính chúng là kẻ thù công khai của các ngươi, nếu là người tinh khôn sẽ không đi theo lối mòn của kẻ thù luôn tìm cách đưa các ngươi vào lầm lạc.
التفاسير العربية:
إِنَّمَا يَأۡمُرُكُم بِٱلسُّوٓءِ وَٱلۡفَحۡشَآءِ وَأَن تَقُولُواْ عَلَى ٱللَّهِ مَا لَا تَعۡلَمُونَ
169- Hắn (Shaytan) toàn xúi dục các ngươi làm điều sàm bậy và xem thường tội lỗi, và hắn xúi các ngươi mô tả Allah bằng những niềm tin và giáo lý không có cơ sở kiến thức, khác hẳn những gì được Allah và các Thiên Sứ của Ngài mang đến cho các ngươi.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• المؤمنون بالله حقًّا هم أعظم الخلق محبة لله؛ لأنهم يطيعونه على كل حال في السراء والضراء، ولا يشركون معه أحدًا.
* Những người có đức tin nơi Allah một cách đích thực là những người yêu Allah nhất trong nhân loại, bởi vì họ luôn tuân lệnh Ngài mọi lúc, mọi nơi dù trong hoàn cảnh thịnh vượng hay khó khăn; và họ không hề gán ghép bất cứ ai (vật) cùng với Ngài.

• في يوم القيامة تنقطع كل الروابط، ويَبْرَأُ كل خليل من خليله، ولا يبقى إلا ما كان خالصًا لله تعالى.
* Vào Ngày Phục Sinh, mọi quan hệ đều cắt đứt, những người bạn thân thiết sẽ tuyên bố vô can với người bạn của mình. Vào Ngày Đó không có mối quan hệ nào còn lại ngoại trừ một điều, đấy là sự thành tâm vì Allah.

• التحذير من كيد الشيطان لتنوع أساليبه وخفائها وقربها من مشتهيات النفس.
* Cảnh cáo về âm mưu thâm hiểm của lũ Shaytan, chúng dùng đủ thủ đoạn để lôi kéo con người sập bẩy của chúng.


وَإِذَا قِيلَ لَهُمُ ٱتَّبِعُواْ مَآ أَنزَلَ ٱللَّهُ قَالُواْ بَلۡ نَتَّبِعُ مَآ أَلۡفَيۡنَا عَلَيۡهِ ءَابَآءَنَآۚ أَوَلَوۡ كَانَ ءَابَآؤُهُمۡ لَا يَعۡقِلُونَ شَيۡـٔٗا وَلَا يَهۡتَدُونَ
170- Và khi những kẻ vô đức tin này được bảo: Các người hãy noi theo Chỉ Đạo và Ánh Sáng mà Allah đã ban xuống. Chúng đáp: Không, chúng tôi quyết làm theo những gì chúng tôi thấy tổ tiên mình đã để lại từ niềm tin và tập quán. Phải chăng chúng mù quáng theo tổ tiên của chúng ngay cả khi tổ tiên của chúng không hề biết tí nào về Chỉ Đạo hay Ánh Sáng, cũng như không được hướng dẫn đến với Chân Lý, điều mà Allah hài lòng ư?
التفاسير العربية:
وَمَثَلُ ٱلَّذِينَ كَفَرُواْ كَمَثَلِ ٱلَّذِي يَنۡعِقُ بِمَا لَا يَسۡمَعُ إِلَّا دُعَآءٗ وَنِدَآءٗۚ صُمُّۢ بُكۡمٌ عُمۡيٞ فَهُمۡ لَا يَعۡقِلُونَ
171- Và hình ảnh của những kẻ vô đức tin mù quáng đi theo tổ tiên chúng giống như hình ảnh một người chăn cừu cố la hét để dọa nạt đàn cừu của mình, nhưng đàn cừu chỉ nghe được âm thanh la hét chứ nào có hiểu được y nói gì. Chúng bị điếc không nghe được chân lý nên không tiếp thu được lợi ích; chúng bị câm nên không nói ra được điều chân lý; và chúng bị mù nên không nhìn thấy được đúng sai, cho nên chúng không thể nhận thức Chỉ Đạo đang mời gọi chúng.
التفاسير العربية:
يَـٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ كُلُواْ مِن طَيِّبَٰتِ مَا رَزَقۡنَٰكُمۡ وَٱشۡكُرُواْ لِلَّهِ إِن كُنتُمۡ إِيَّاهُ تَعۡبُدُونَ
172- Hỡi những người có đức tin nơi Allah và đi theo Thiên Sứ của Ngài, các ngươi hãy ăn uống những thực phẩm tốt sạch mà Allah đã ban cho các ngươi và cho phép các ngươi sử dụng; các ngươi hãy biết tạ ơn Allah bằng tấm lòng và hành động đúng giáo lý về những thiên ân đã ban; và một trong những hình thức tạ ơn Allah là tuân thủ theo mọi điều mà Ngài sai bảo và tránh xa việc bất tuân Ngài nếu các ngươi thực sự là những người thờ phượng một mình Allah, không tổ hợp với Ngài bất cứ ai (vật gì).
التفاسير العربية:
إِنَّمَا حَرَّمَ عَلَيۡكُمُ ٱلۡمَيۡتَةَ وَٱلدَّمَ وَلَحۡمَ ٱلۡخِنزِيرِ وَمَآ أُهِلَّ بِهِۦ لِغَيۡرِ ٱللَّهِۖ فَمَنِ ٱضۡطُرَّ غَيۡرَ بَاغٖ وَلَا عَادٖ فَلَآ إِثۡمَ عَلَيۡهِۚ إِنَّ ٱللَّهَ غَفُورٞ رَّحِيمٌ
173- Allah chỉ cấm các ngươi ăn những động vật chết chưa được cắt cổ (theo luật Islam), máu Masfuh (máu xuất ra hoàn toàn khỏi cơ thể con vật), thịt heo và tất cả động vật khi cắt cổ không được nhân danh Allah. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp ngoài ý muốn cần phải ăn (để duy trì sự sống) và chỉ ăn đủ lượng (cho cơ thể duy trì sự sống) chứ không quá độ, thì các ngươi không bị tội cũng không bị phạt. Quả thật, Allah luôn rộng lượng đối với những người biết sám hối, Ngài nhân từ với họ, Ngài xí xóa việc ăn những món cấm trong hoàn cảnh bất đắc dĩ.
التفاسير العربية:
إِنَّ ٱلَّذِينَ يَكۡتُمُونَ مَآ أَنزَلَ ٱللَّهُ مِنَ ٱلۡكِتَٰبِ وَيَشۡتَرُونَ بِهِۦ ثَمَنٗا قَلِيلًا أُوْلَـٰٓئِكَ مَا يَأۡكُلُونَ فِي بُطُونِهِمۡ إِلَّا ٱلنَّارَ وَلَا يُكَلِّمُهُمُ ٱللَّهُ يَوۡمَ ٱلۡقِيَٰمَةِ وَلَا يُزَكِّيهِمۡ وَلَهُمۡ عَذَابٌ أَلِيمٌ
174- Quả thật, những ai dám che giấu những gì mà Allah đã thiên khải trong Kinh Sách và những bằng chứng xác nhận về sứ mạng của Muhammad, giống như hành động của Do Thái và Thiên Chúa, những kẻ mà chúng sẵn sàng che giấu để đổi lại lợi nhuận cỏn con từ địa vị, quyền lực, chức vụ hoặc tiền bạc. Những kẻ đó thật ra chỉ tạo ra các nguyên nhân để đẩy bản thân mình sớm sa vào sự trừng phạt trong Hỏa Ngục. Vào Ngày Phục Sinh, Allah không thèm nói chuyện với chúng bằng giọng thương yêu mà bằng giọng dọa nạt, Ngài cũng không rửa tội hay tuyên dương chúng, ngược lại chúng phải chịu hình phạt đau đớn.
التفاسير العربية:
أُوْلَـٰٓئِكَ ٱلَّذِينَ ٱشۡتَرَوُاْ ٱلضَّلَٰلَةَ بِٱلۡهُدَىٰ وَٱلۡعَذَابَ بِٱلۡمَغۡفِرَةِۚ فَمَآ أَصۡبَرَهُمۡ عَلَى ٱلنَّارِ
175- Những kẻ được mô tả che giấu kiến thức mà thiên hạ cần đến là những kẻ đã đổi Chỉ Đạo để lấy sự lầm lạc, bởi vì chúng đã che giấu kiến thức chân lý. Chúng thực sự đã đổi lấy hình phạt của Allah thay vì sự tha thứ của Ngài. Chúng đã tự tạo cơ hội để bản thân nhanh rơi vào hình phạt nơi Hỏa Ngục như thể chúng không thể kiên nhẫn hơn cho sự việc đó.
التفاسير العربية:
ذَٰلِكَ بِأَنَّ ٱللَّهَ نَزَّلَ ٱلۡكِتَٰبَ بِٱلۡحَقِّۗ وَإِنَّ ٱلَّذِينَ ٱخۡتَلَفُواْ فِي ٱلۡكِتَٰبِ لَفِي شِقَاقِۭ بَعِيدٖ
176- Đó là hậu quả cho việc che giấu kiến thức và Chỉ Đạo trong khi mọi thứ đã rõ ràng trong các Kinh Sách mà Allah đã ban xuống, cái mà đáng lẽ ra phải trình bày công khai chứ không được che giấu. Và những ai bất đồng về các Kinh Sách đã được thiên khải rồi chỉ tin tưởng một số giáo điều và phủ nhận một số giáo điều khác trong đó thì đấy là những kẻ đã đi qua xa khỏi chân lý.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• أكثر ضلال الخلق بسبب تعطيل العقل، ومتابعة من سبقهم في ضلالهم، وتقليدهم بغير وعي.
* Nguyên nhân chủ yếu đưa con người rơi vào lầm lạc là dùng khối óc để suy luận và mù quáng đi theo thế hệ trước qua các phong tục, tập quán.

• عدم انتفاع المرء بما وهبه الله من نعمة العقل والسمع والبصر، يجعله مثل من فقد هذه النعم.
* Con người không tận dụng đúng các giác quan mà Allah đã phú cho như khối óc, thính giác và thị giác, họ giống như những người đã mất hết các giác quan này vậy.

• من أشد الناس عقوبة يوم القيامة من يكتم العلم الذي أنزله الله، والهدى الذي جاءت به رسله تعالى.
* Người phải chịu hình phạt nặng nhất trong nhân loại là kẻ che giấu kiến thức mà Allah đã thiên khải cũng như sự chỉ đạo mà các Thiên Sứ đã truyền đạt.

• من نعمة الله تعالى على عباده المؤمنين أن جعل المحرمات قليلة محدودة، وأما المباحات فكثيرة غير محدودة.
* Trong những thiên ân của Allah dành cho đám nô lệ có đức tin của Ngài là Ngài chỉ cấm họ một ít điều còn những thứ Ngài cho phép thì nhiều vô hạn.


۞لَّيۡسَ ٱلۡبِرَّ أَن تُوَلُّواْ وُجُوهَكُمۡ قِبَلَ ٱلۡمَشۡرِقِ وَٱلۡمَغۡرِبِ وَلَٰكِنَّ ٱلۡبِرَّ مَنۡ ءَامَنَ بِٱللَّهِ وَٱلۡيَوۡمِ ٱلۡأٓخِرِ وَٱلۡمَلَـٰٓئِكَةِ وَٱلۡكِتَٰبِ وَٱلنَّبِيِّـۧنَ وَءَاتَى ٱلۡمَالَ عَلَىٰ حُبِّهِۦ ذَوِي ٱلۡقُرۡبَىٰ وَٱلۡيَتَٰمَىٰ وَٱلۡمَسَٰكِينَ وَٱبۡنَ ٱلسَّبِيلِ وَٱلسَّآئِلِينَ وَفِي ٱلرِّقَابِ وَأَقَامَ ٱلصَّلَوٰةَ وَءَاتَى ٱلزَّكَوٰةَ وَٱلۡمُوفُونَ بِعَهۡدِهِمۡ إِذَا عَٰهَدُواْۖ وَٱلصَّـٰبِرِينَ فِي ٱلۡبَأۡسَآءِ وَٱلضَّرَّآءِ وَحِينَ ٱلۡبَأۡسِۗ أُوْلَـٰٓئِكَ ٱلَّذِينَ صَدَقُواْۖ وَأُوْلَـٰٓئِكَ هُمُ ٱلۡمُتَّقُونَ
177- Sự ngoan đạo làm hài lòng Allah không phải ở việc hướng mặt về hướng đông hoặc hướng tây cũng không phải ở việc tranh luận về điều đó mà sự ngoan đạo là đối với ai tin nơi Allah là Thượng Đế duy nhất, tin nơi Ngày Tận Thế, nơi tất cả các Thiên Thần, nơi tất cả các Kinh Sách đã thiên khải, nơi tất cả các Nabi không có sự phân biệt giữa họ; song song với niềm tin đó, y bố thí tài sản cho bà con họ hàng bằng niềm vui và tình yêu, cho trẻ mồ côi, cho người thiếu thốn, cho người cơ nhỡ, người lỡ đường, người bất đắc dĩ phải ăn xin; y dùng tiền để chuộc thân nô lệ và tù binh, năng hành lễ Salah một cách chu đáo mà Allah yêu cầu, xuất Zakat, thực hiện mọi điều đã giao ước, biết kiên nhẫn lúc khó khăn, nghèo khổ, bệnh tật và kiên cường không bỏ chạy khi đối điện kẻ thù. Những người được mô tả như thế mới là những đã thật lòng với Allah bằng đức tin Iman và hành động. Họ mới là những người thực sự biết kính sợ, biết tuân thủ theo mệnh lệnh của Allah và biết tránh xa những điều Ngài nghiêm cấm.
التفاسير العربية:
يَـٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ كُتِبَ عَلَيۡكُمُ ٱلۡقِصَاصُ فِي ٱلۡقَتۡلَىۖ ٱلۡحُرُّ بِٱلۡحُرِّ وَٱلۡعَبۡدُ بِٱلۡعَبۡدِ وَٱلۡأُنثَىٰ بِٱلۡأُنثَىٰۚ فَمَنۡ عُفِيَ لَهُۥ مِنۡ أَخِيهِ شَيۡءٞ فَٱتِّبَاعُۢ بِٱلۡمَعۡرُوفِ وَأَدَآءٌ إِلَيۡهِ بِإِحۡسَٰنٖۗ ذَٰلِكَ تَخۡفِيفٞ مِّن رَّبِّكُمۡ وَرَحۡمَةٞۗ فَمَنِ ٱعۡتَدَىٰ بَعۡدَ ذَٰلِكَ فَلَهُۥ عَذَابٌ أَلِيمٞ
178- Hỡi những người đã tin tưởng nơi Allah và noi theo Thiên Sứ của Ngài, luật Qisas (trả đũa) cho việc cố tình giết người được qui định cụ thể cho các ngươi như sau: Kẻ giết người phải đền mạng, người tự do đền mạng bằng người tự do, người nô lệ đền mạng bằng người nô lệ, phụ nữ đền mạng bằng phụ nữ. Nếu người bị sát hại chịu tha thứ trước khi chết hoặc gia đình nạn nhân đồng ý nhận tiền đền bù thì người gây hại phải bồi thường một cách thỏa đáng; về bên bị hại không được tạo áp lực bằng cách gieo tiếng xấu, hãm hại bên bên người gây hại. Đó là cách mà Thượng Đế dùng giảm nhẹ cho các ngươi, một sự nhân từ dành cho cộng đồng (Islam) này. Sau khi bên bị hại chấp nhận bồi thường và bên hại đã hoàn tất việc đền bù thỏa đáng mà bên bị hại vẫn còn hành động xấu cho bên hại thì sẽ phải đối mặt với hình phạt đau đớn từ Allah.
التفاسير العربية:
وَلَكُمۡ فِي ٱلۡقِصَاصِ حَيَوٰةٞ يَـٰٓأُوْلِي ٱلۡأَلۡبَٰبِ لَعَلَّكُمۡ تَتَّقُونَ
179- Và luật Qisas mà Allah đã qui định cho các ngươi mang lại cho các ngươi một lối sống giúp bảo vệ sinh mạng và xóa đi thù hằn giữa các ngươi, ý nghĩa cao quí này chỉ có nhóm người biết suy nghĩ và kính sợ Allah mới nhận thức và tuân thủ theo.
التفاسير العربية:
كُتِبَ عَلَيۡكُمۡ إِذَا حَضَرَ أَحَدَكُمُ ٱلۡمَوۡتُ إِن تَرَكَ خَيۡرًا ٱلۡوَصِيَّةُ لِلۡوَٰلِدَيۡنِ وَٱلۡأَقۡرَبِينَ بِٱلۡمَعۡرُوفِۖ حَقًّا عَلَى ٱلۡمُتَّقِينَ
180- Các ngươi được qui định rằng khi ai đó trong các ngươi hấp hối và nguy kịch, nếu y bỏ lại tài sản nhiều thì y hãy di chúc cho cha mẹ, cho người thân tộc theo đúng mức lượng mà giáo lý qui định, đó là không vượt mức một phần ba tổng tài sản. Đây được xem là hành động đáng làm của những người biết kính sợ Allah Tối Cao. Tuy nhiên, câu Kinh này được mặc khải trước câu Kinh phân chia tài sản, kể từ khi câu Kinh qui định chia tài sản đã liệt kê cụ thể từng người, ai được hưởng và được hưởng bao nhiêu (thì giáo lý của câu Kinh này đã bị thay thế).
التفاسير العربية:
فَمَنۢ بَدَّلَهُۥ بَعۡدَ مَا سَمِعَهُۥ فَإِنَّمَآ إِثۡمُهُۥ عَلَى ٱلَّذِينَ يُبَدِّلُونَهُۥٓۚ إِنَّ ٱللَّهَ سَمِيعٌ عَلِيمٞ
181- Do đó, ai đã biết rõ di chúc nhưng cố tình chỉnh sửa thêm bớt hoặc cấm cản ai đó hưởng theo di chúc, y phải gánh chịu cho tội lỗi thay đổi đó còn người viết di chúc vô can. Quả thật, Allah hằng nghe mọi lời nói của người bề tôi, thông toàn mọi hành động của họ, không có bất cứ việc gì có thể vượt khỏi tầm kiểm soát của Ngài.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• البِرُّ الذي يحبه الله يكون بتحقيق الإيمان والعمل الصالح، وأما التمسك بالمظاهر فقط فلا يكفي عنده تعالى.
*Sự ngoan đạo mà Allah thương yêu phải được chứng thực bằng dức tin Iman và việc làm thiện tốt, còn việc chỉ thể hiện bên ngoài thì vẫn chưa đủ đối với Ngài.

• من أعظم ما يحفظ الأنفس، ويمنع من التعدي والظلم؛ تطبيق مبدأ القصاص الذي شرعه الله في النفس وما دونها.
* Điều vĩ đại nhất bảo vệ sinh mạng và ngăn cấm hành động xâm hại cũng như sự bất công là áp dụng luật Qisas đã được Allah qui định về tội giết người và những tội nhỏ hơn.

• عِظَمُ شأن الوصية، ولا سيما لمن كان عنده شيء يُوصي به، وإثمُ من غيَّر في وصية الميت وبدَّل ما فيها.
* Tầm quan trọng của di chúc, đặc biệt là với những ai có điều cần trăn trối lại, và tội lỗi sẽ đổ lên đầu kẻ nào cố tình thay đổi di chúc mà người chết đã viết.


فَمَنۡ خَافَ مِن مُّوصٖ جَنَفًا أَوۡ إِثۡمٗا فَأَصۡلَحَ بَيۡنَهُمۡ فَلَآ إِثۡمَ عَلَيۡهِۚ إِنَّ ٱللَّهَ غَفُورٞ رَّحِيمٞ
182- Ai nhận thấy được người viết di chúc viết lệch chân lý hoặc có sự bất công trong di chúc, y cố gắng khuyên bảo người viết di chúc chỉnh sửa cho đúng và cố cải thiện lỗi sai trong di chúc thì y không bị tội, ngược lại còn được phước do công cải thiện của y, quả thật Allah rất nhân từ đối với ai biết sám hối và khoan dung với họ.
التفاسير العربية:
يَـٰٓأَيُّهَا ٱلَّذِينَ ءَامَنُواْ كُتِبَ عَلَيۡكُمُ ٱلصِّيَامُ كَمَا كُتِبَ عَلَى ٱلَّذِينَ مِن قَبۡلِكُمۡ لَعَلَّكُمۡ تَتَّقُونَ
183- Hỡi những người đã tin tưởng nơi Allah và Thiên Sứ của Ngài, lệnh truyền từ Thượng Đế bắt buộc các ngươi nhịn chay giống như Ngài đã bắt buộc các thế hệ trước các ngươi phải nhịn chay. Hy vọng qua việc nhịn chay đó các ngươi biết kính sợ Allah bằng cách xây bức tường ngoan đạo bảo vệ các ngươi khỏi hình phạt của Ngài.
التفاسير العربية:
أَيَّامٗا مَّعۡدُودَٰتٖۚ فَمَن كَانَ مِنكُم مَّرِيضًا أَوۡ عَلَىٰ سَفَرٖ فَعِدَّةٞ مِّنۡ أَيَّامٍ أُخَرَۚ وَعَلَى ٱلَّذِينَ يُطِيقُونَهُۥ فِدۡيَةٞ طَعَامُ مِسۡكِينٖۖ فَمَن تَطَوَّعَ خَيۡرٗا فَهُوَ خَيۡرٞ لَّهُۥۚ وَأَن تَصُومُواْ خَيۡرٞ لَّكُمۡ إِن كُنتُمۡ تَعۡلَمُونَ
184- Việc nhịn chay chỉ bắt buộc các ngươi trong một số ngày ít ỏi của năm. Nhưng ai trong các ngươi bị bệnh không thể nhịn chay hoặc đang đi đường xa thì được phép ăn uống, rồi nhịn chay bù lại vào các ngày khác tương ứng số ngày đã không nhịn. Đối với người không thể nhịn thì phải xuất thức ăn mỗi ngày cho một người nghèo tương ứng một ngày không nhịn. Tuy nhiên, việc nhịn chay sẽ tốt cho các ngươi hơn việc không nhịn và xuất thức ăn thay thế, giá các ngươi biết rõ giá trị của nhịn chay. Đây là giáo lý đầu tiên khi bắt buộc nhịn chay, ai muốn nhịn thì nhịn và ai không muốn thì xuất thức ăn thay thế, sau đó Allah bắt buộc tất cả phải nhịn chay khi trưởng thành và có khả năng nhịn.
التفاسير العربية:
شَهۡرُ رَمَضَانَ ٱلَّذِيٓ أُنزِلَ فِيهِ ٱلۡقُرۡءَانُ هُدٗى لِّلنَّاسِ وَبَيِّنَٰتٖ مِّنَ ٱلۡهُدَىٰ وَٱلۡفُرۡقَانِۚ فَمَن شَهِدَ مِنكُمُ ٱلشَّهۡرَ فَلۡيَصُمۡهُۖ وَمَن كَانَ مَرِيضًا أَوۡ عَلَىٰ سَفَرٖ فَعِدَّةٞ مِّنۡ أَيَّامٍ أُخَرَۗ يُرِيدُ ٱللَّهُ بِكُمُ ٱلۡيُسۡرَ وَلَا يُرِيدُ بِكُمُ ٱلۡعُسۡرَ وَلِتُكۡمِلُواْ ٱلۡعِدَّةَ وَلِتُكَبِّرُواْ ٱللَّهَ عَلَىٰ مَا هَدَىٰكُمۡ وَلَعَلَّكُمۡ تَشۡكُرُونَ
185- Tháng Ramadan là tháng mà Qur'an được bắt đầu thiên khải cho Thiên Sứ Muhammad, cụ thể là trong đêm Al-Qadar. Allah dùng Qur'an để hướng dẫn con người, trong Nó chứa đựng các chỉ đạo minh bạch; tiêu chuẩn phân biệt chân lý và ngụy tạo. Ai có mặt tại nhà trong tháng Ramadan với sức khỏe bình thường thì phải nhịn chay trọn tháng, còn ai bị bệnh hoặc đang du hành thì được phép ăn uống nhưng phải nhịn bù lại vào các ngày khác tương ứng với số ngày đã không nhịn. Qua giáo luật này Allah muốn tạo sự dễ dàng cho các ngươi chứ không muốn gây khó khăn cho các ngươi; hãy nhịn chay đầy đủ tất cả các ngày trong tháng và hãy Takbir (nói Allahu Akbar) khi kết thúc Ramadan và trong ngày Eid để tạ ơn Allah đã phù hộ các ngươi hoàn thành bổn phận nhịn chay. Qua đó, hi vọng các ngươi biết tạ ơn Ngài vì đã hướng dẫn tôn giáo này cho các ngươi, tôn giáo mà Ngài đã hài lòng cho các ngươi.
التفاسير العربية:
وَإِذَا سَأَلَكَ عِبَادِي عَنِّي فَإِنِّي قَرِيبٌۖ أُجِيبُ دَعۡوَةَ ٱلدَّاعِ إِذَا دَعَانِۖ فَلۡيَسۡتَجِيبُواْ لِي وَلۡيُؤۡمِنُواْ بِي لَعَلَّهُمۡ يَرۡشُدُونَ
186- Và khi đám nô lệ của TA hỏi Ngươi - hỡi Nabi Muhammad - về sự gần kề của TA đối với họ cũng như về việc TA đáp lại lời cầu xin của họ thì Ngươi hãy cho họ biết TA ở rất gần với họ, TA hiểu rõ hoàn cảnh của họ, nghe rõ lời khẩn cầu của họ, cho nên không cần đến kẻ trung gian làm chiếc cầu nối giữa họ và TA và họ không cần phải gào thét khi cầu xin, TA sẽ đáp lại lời khẩn cầu của ai thành tâm khẩn cầu TA. Đổi lại, họ phải thực hiện đúng mọi mệnh lệnh của TA, phải vững chắc trên đức tin Iman, bởi đó là những cách hữu ích nhất giúp lời cầu xin của họ được TA chấp nhận, hi vọng họ biết luôn tuân thủ chỉ đạo trong cuộc sống và hành đạo.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• فَضَّلَ الله شهر رمضان بجعله شهر الصوم وبإنزال القرآن فيه، فهو شهر القرآن؛ ولهذا كان النبي صلى الله عليه وسلم يتدارس القرآن مع جبريل في رمضان، ويجتهد فيه ما لا يجتهد في غيره.
* Allah đã ban ân phúc cho tháng Ramadan bằng việc thiên khải Qur'an trong tháng đó. Cho nên, Ramadan là tháng của Qur'an. Chính vì lẽ này, Thiên Sứ Muhammad đã thường ôn lại Qur'an với Jibril trong tháng này và năng đọc Qur'an trong tháng này hơn các tháng khác.

• شريعة الإسلام قامت في أصولها وفروعها على التيسير ورفع الحرج، فما جعل الله علينا في الدين من حرج.
* Cả phần gốc và nhánh của bộ giáo luật Islam được đặt trên nguyên tắc "đơn giản, dễ dàng, không khó khăn" cho các tín đồ và Allah không tạo ra sự khó khăn cho chúng ta trong tôn giáo.

• قُرْب الله تعالى من عباده، وإحاطته بهم، وعلمه التام بأحوالهم؛ ولهذا فهو يسمع دعاءهم ويجيب سؤالهم.
* Allah ở rất gần đám nô lệ của Ngài, Ngài bao trùm lấy họ bằng kiến thức của Ngài và Ngài biết rõ mọi tình huống của họ. Bởi thế, Ngài nghe thấy lời khấn vái, cầu xin của họ và Ngài sẽ đáp lại lời khẩn cầu của họ.


أُحِلَّ لَكُمۡ لَيۡلَةَ ٱلصِّيَامِ ٱلرَّفَثُ إِلَىٰ نِسَآئِكُمۡۚ هُنَّ لِبَاسٞ لَّكُمۡ وَأَنتُمۡ لِبَاسٞ لَّهُنَّۗ عَلِمَ ٱللَّهُ أَنَّكُمۡ كُنتُمۡ تَخۡتَانُونَ أَنفُسَكُمۡ فَتَابَ عَلَيۡكُمۡ وَعَفَا عَنكُمۡۖ فَٱلۡـَٰٔنَ بَٰشِرُوهُنَّ وَٱبۡتَغُواْ مَا كَتَبَ ٱللَّهُ لَكُمۡۚ وَكُلُواْ وَٱشۡرَبُواْ حَتَّىٰ يَتَبَيَّنَ لَكُمُ ٱلۡخَيۡطُ ٱلۡأَبۡيَضُ مِنَ ٱلۡخَيۡطِ ٱلۡأَسۡوَدِ مِنَ ٱلۡفَجۡرِۖ ثُمَّ أَتِمُّواْ ٱلصِّيَامَ إِلَى ٱلَّيۡلِۚ وَلَا تُبَٰشِرُوهُنَّ وَأَنتُمۡ عَٰكِفُونَ فِي ٱلۡمَسَٰجِدِۗ تِلۡكَ حُدُودُ ٱللَّهِ فَلَا تَقۡرَبُوهَاۗ كَذَٰلِكَ يُبَيِّنُ ٱللَّهُ ءَايَٰتِهِۦ لِلنَّاسِ لَعَلَّهُمۡ يَتَّقُونَ
187- Quả thật, trong luật định ban đầu, khi người đàn ông ngủ trong những đêm của tháng nhịn chay rồi thức dậy trước giờ Fajr thì bị cấm ăn uống và gần gũi vợ. Sau đó, luật này được Allah xóa bỏ và cho phép tín đồ Muslim gần gũi vợ vào ban đêm trở lại; vợ của các ngươi là tấm chắn che đậy phần kín cho các ngươi, ngược lại, các ngươi là tấm chắn che đậy phần kín cho họ. Quả thật, Allah đã biết các ngươi đã lén lút vi phạm giới luật cấm này như với lòng nhân từ dành cho các ngươi, Ngài đã tha thứ cho các ngươi, Ngài đã giảm nhẹ cho các ngươi. Bởi thế, bây giờ các ngươi hãy gần gũi những người vợ của các ngươi để tìm thiên ân mà Ngài đã định cho các ngươi về con cái, các ngươi hãy tự do ăn uống suốt đêm cho đến ánh rạng đông thật sự xuất hiện, tức khi thấy vệt màu trắng xuất hiện trong trời tối đen là lúc các ngươi phải nhịn chay cho đến mặt trời lặn hẳn. Cấm các ngươi gần gũi vợ trong lúc các ngươi đang 'Etikaf trong Masjid, bởi hành động đó làm các ngươi vi phạm giới cấm của Allah. Tất cả đã được bày rõ ràng cụ thể cho nhân loại để họ kính sợ Allah mà thực thi theo lệnh của Ngài và tránh xa điều Ngài cấm.
التفاسير العربية:
وَلَا تَأۡكُلُوٓاْ أَمۡوَٰلَكُم بَيۡنَكُم بِٱلۡبَٰطِلِ وَتُدۡلُواْ بِهَآ إِلَى ٱلۡحُكَّامِ لِتَأۡكُلُواْ فَرِيقٗا مِّنۡ أَمۡوَٰلِ ٱلنَّاسِ بِٱلۡإِثۡمِ وَأَنتُمۡ تَعۡلَمُونَ
188- Và cấm các ngươi lấy tài sản của nhau một cách bất chính như trộm cắp, chiếm đoạt, gian lận và cũng đừng thưa kiện ra tòa bằng mưu mô xảo quyệt để lấy tài sản của người khác một cách tội lỗi trong khi các ngươi biết đó là điều Allah nghiêm cấm. Việc biết điều đó bị cấm mà vẫn làm quả là một hành động xấu xa và đáng phải chịu phạt nặng nề.
التفاسير العربية:
۞يَسۡـَٔلُونَكَ عَنِ ٱلۡأَهِلَّةِۖ قُلۡ هِيَ مَوَٰقِيتُ لِلنَّاسِ وَٱلۡحَجِّۗ وَلَيۡسَ ٱلۡبِرُّ بِأَن تَأۡتُواْ ٱلۡبُيُوتَ مِن ظُهُورِهَا وَلَٰكِنَّ ٱلۡبِرَّ مَنِ ٱتَّقَىٰۗ وَأۡتُواْ ٱلۡبُيُوتَ مِنۡ أَبۡوَٰبِهَاۚ وَٱتَّقُواْ ٱللَّهَ لَعَلَّكُمۡ تُفۡلِحُونَ
189- Họ hỏi Ngươi - hỡi Thiên Sứ Muhammad - về hiện tượng trăng lưỡi liềm thay đổi, Ngươi hãy trả lời chúng biết về ý nghĩa của hiện tượng đó là để con người nhận biết thời gian hành đạo như các tháng hành hương Hajj, tháng nhịn chay, thời gian tròn một năm để xuất Zakat; để nhận biết thời gian trao đổi mua bán như định ngày giờ trả nợ. Việc ngoan đạo và tốt đẹp không thể bằng cách leo từ trần nhà vào trong nhà sau khi đã định tâm Ehram hành hương Hajj và 'Umrah như các ngươi đã từng làm thời tiền Islam, mà thật ra ngoan đạo là lòng kính sợ Allah từ bên ngoài lẫn bên trong. Vì vậy các ngươi hãy vào nhà từ các cửa, điều đó sẽ dễ dàng cho các ngươi hơn và các ngươi sẽ không phải gặp khó khăn bởi Allah đã không bắt các ngươi làm những điều khó khăn đó. Các ngươi hãy xây bức tường bảo vệ các ngươi với hình phạt của Allah bằng nhiều việc làm ngoan đạo, hi vọng các ngươi đạt được mong muốn của mình trong nó và tránh được mọi thứ các ngươi ghét bỏ.
التفاسير العربية:
وَقَٰتِلُواْ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِ ٱلَّذِينَ يُقَٰتِلُونَكُمۡ وَلَا تَعۡتَدُوٓاْۚ إِنَّ ٱللَّهَ لَا يُحِبُّ ٱلۡمُعۡتَدِينَ
190- Và các ngươi hãy chiến đấu - để giơ cao lời phán của Allah - với những kẻ vô đức tin muốn tìm cách tách các ngươi rời xa tôn giáo của Allah. Tuy nhiên, các ngươi không được phép lạm dụng điều được phép mà vượt quá giới hạn của Allah như giết trẻ con, phụ nữ, người già hoặc phanh thây người chết... quả thật Allah không yêu thương những kẻ vượt giới hạn của Allah sau khi đã được định thành luật.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• مشروعية الاعتكاف، وهو لزوم المسجد للعبادة؛ ولهذا يُنهى عن كل ما يعارض مقصود الاعتكاف، ومنه مباشرة المرأة.
* Cho phép 'Etikaf, đó là ở suốt trong Masjid để hành đạo, và để bảo tồn của việc hành đạo 'Etikaf thì Islam cấm gần gủi vợ.

• النهي عن أكل أموال الناس بالباطل، وتحريم كل الوسائل والأساليب التي تقود لذلك، ومنها الرشوة.
* Cấm lấy tài sản thiên hạ một cách bất chính, cấm mọi phương cách dẫn đến việc làm đó như hối lộ, chẳng hạn.

• تحريم الاعتداء والنهي عنه؛ لأن هذا الدين قائم على العدل والإحسان.
* Cấm gây hấn, gây bất công bởi Islam là tôn giáo công bằng và gần gủi.


وَٱقۡتُلُوهُمۡ حَيۡثُ ثَقِفۡتُمُوهُمۡ وَأَخۡرِجُوهُم مِّنۡ حَيۡثُ أَخۡرَجُوكُمۡۚ وَٱلۡفِتۡنَةُ أَشَدُّ مِنَ ٱلۡقَتۡلِۚ وَلَا تُقَٰتِلُوهُمۡ عِندَ ٱلۡمَسۡجِدِ ٱلۡحَرَامِ حَتَّىٰ يُقَٰتِلُوكُمۡ فِيهِۖ فَإِن قَٰتَلُوكُمۡ فَٱقۡتُلُوهُمۡۗ كَذَٰلِكَ جَزَآءُ ٱلۡكَٰفِرِينَ
191- Và các ngươi hãy đánh chúng ở bất cứ nơi nào mà các ngươi gặp chúng, các ngươi hãy đuổi chúng ra khỏi Makkah giống như chúng đã xua đuổi các ngươi trước đây. Hành động cấm cản người có đức tin hành đạo và cũng như ép họ bỏ đạo còn nguy hại hơn cả hành động giết chóc. Và các ngươi không được khai chiến tại Masjid Al-Haram nhằm tôn trọng Masjid ngoại trừ họ khai chiến với các ngươi trước, một khi họ khai chiến với các ngươi tại Masjid Al-Haram thì các ngươi mới đáp trả họ - nghĩa là giết họ khi họ dám gây hại tại Masjid Al-Haram - đây là phần thưởng dành cho đám người ngoại đạo.
التفاسير العربية:
فَإِنِ ٱنتَهَوۡاْ فَإِنَّ ٱللَّهَ غَفُورٞ رَّحِيمٞ
192- Một khi họ chủ động kết thúc chiến tranh và tự chấm dứt mọi hành động phá rối thì các ngươi hãy chấm dứt theo, quả thật, Allah hằng tha thứ cho ai biết sám hối, vì thế các ngươi đừng trách móc các tội lỗi đã qua mà họ đã làm, Ngài khoan hồng cho họ nên không trừng phạt họ.
التفاسير العربية:
وَقَٰتِلُوهُمۡ حَتَّىٰ لَا تَكُونَ فِتۡنَةٞ وَيَكُونَ ٱلدِّينُ لِلَّهِۖ فَإِنِ ٱنتَهَوۡاْ فَلَا عُدۡوَٰنَ إِلَّا عَلَى ٱلظَّـٰلِمِينَ
193- Và các ngươi cứ tiếp tục chiến đấu với những kẻ vô đức tin mãi đến khi họ chấm dứt mọi hành động Shirk cũng như hành động ngăn cản thiên hạ đến với Islam và cho đến khi tôn giáo của Allah được thể hiện công khai (không khuất phục trước một thế lực nào). Một khi chúng tự chấm dứt chiến tranh thì các ngươi đừng đánh với chúng nữa, bởi quả thật, không ai là kẻ thù ngoại trừ những kẻ bất công và ngăn chặn con đường đến với Allah.
التفاسير العربية:
ٱلشَّهۡرُ ٱلۡحَرَامُ بِٱلشَّهۡرِ ٱلۡحَرَامِ وَٱلۡحُرُمَٰتُ قِصَاصٞۚ فَمَنِ ٱعۡتَدَىٰ عَلَيۡكُمۡ فَٱعۡتَدُواْ عَلَيۡهِ بِمِثۡلِ مَا ٱعۡتَدَىٰ عَلَيۡكُمۡۚ وَٱتَّقُواْ ٱللَّهَ وَٱعۡلَمُوٓاْ أَنَّ ٱللَّهَ مَعَ ٱلۡمُتَّقِينَ
194- Tháng Haram năm thứ bảy là tháng mà Allah cho phép các ngươi vào vùng đất Haram để hành hương 'Umrah thay cho tháng Haram năm thứ sáu trước đó đã bị nhóm đa thần cấm không cho vào vùng đất Haram. Các điều cấm kỵ - giống như sự cấm kỵ của vùng đất Makkah này, trong tháng cấm kỵ này và thời gian Ehram - ai vị phạm sẽ bị trả đũa. Vì vậy, ai xâm hại đến các ngươi thì các ngươi hãy đáp trả lại y giống như y đã làm với các ngươi nhưng đừng lạm dụng. Quả thật, Allah không hề thương yêu những ai vượt hạn định của Allah và hãy biết sợ Allah về các hạn định mà Ngài cho phép các ngươi, hãy biết rõ Allah luôn sát cánh với nhóm người ngay chính, sợ Allah bằng sự ủng hộ và hướng dẫn của Ngài.
التفاسير العربية:
وَأَنفِقُواْ فِي سَبِيلِ ٱللَّهِ وَلَا تُلۡقُواْ بِأَيۡدِيكُمۡ إِلَى ٱلتَّهۡلُكَةِ وَأَحۡسِنُوٓاْۚ إِنَّ ٱللَّهَ يُحِبُّ ٱلۡمُحۡسِنِينَ
195- Và các ngươi hãy chi dùng tài sản của các ngươi trong con đường phục tùng Allah bằng các hình thức Jihad và các hình thức khác, cấm các ngươi tự đẩy thân mình vào mối nguy hiểm diệt vong bằng cách bỏ Jihad thay thế bằng con đường khác hoặc tự tạo nguyên nhân đưa mình vào nguy hiểm; các ngươi hãy hành đạo thật tốt, quan hệ và cư xử với mọi người thật đàng hoàng. Quả thật, Allah rất yêu thương nhóm người đức hạnh, Ngài sẽ ban thưởng hậu hĩnh cho họ và hướng dẫn họ đến chính đạo.
التفاسير العربية:
وَأَتِمُّواْ ٱلۡحَجَّ وَٱلۡعُمۡرَةَ لِلَّهِۚ فَإِنۡ أُحۡصِرۡتُمۡ فَمَا ٱسۡتَيۡسَرَ مِنَ ٱلۡهَدۡيِۖ وَلَا تَحۡلِقُواْ رُءُوسَكُمۡ حَتَّىٰ يَبۡلُغَ ٱلۡهَدۡيُ مَحِلَّهُۥۚ فَمَن كَانَ مِنكُم مَّرِيضًا أَوۡ بِهِۦٓ أَذٗى مِّن رَّأۡسِهِۦ فَفِدۡيَةٞ مِّن صِيَامٍ أَوۡ صَدَقَةٍ أَوۡ نُسُكٖۚ فَإِذَآ أَمِنتُمۡ فَمَن تَمَتَّعَ بِٱلۡعُمۡرَةِ إِلَى ٱلۡحَجِّ فَمَا ٱسۡتَيۡسَرَ مِنَ ٱلۡهَدۡيِۚ فَمَن لَّمۡ يَجِدۡ فَصِيَامُ ثَلَٰثَةِ أَيَّامٖ فِي ٱلۡحَجِّ وَسَبۡعَةٍ إِذَا رَجَعۡتُمۡۗ تِلۡكَ عَشَرَةٞ كَامِلَةٞۗ ذَٰلِكَ لِمَن لَّمۡ يَكُنۡ أَهۡلُهُۥ حَاضِرِي ٱلۡمَسۡجِدِ ٱلۡحَرَامِۚ وَٱتَّقُواْ ٱللَّهَ وَٱعۡلَمُوٓاْ أَنَّ ٱللَّهَ شَدِيدُ ٱلۡعِقَابِ
196- Và các ngươi hãy thực hiện trọn vẹn cả Hajj và 'Umrah vì sắc diện của Allah. Trường hợp các ngươi bị cản trở không thể hoàn thành bởi bệnh tật hoặc kẻ thù thì các ngươi hãy giết mổ Hadi - lạc đà, bò hoặc dê, cừu - theo khả năng của các ngươi để các ngươi được phép trở lại bình thường. Các ngươi không được cạo đầu hoặc cắt ngắn tóc cho đến khi nào Hadi được dắt đến nơi được phép giết. Nếu bị cản trở không đến được khu vực Haram thì các ngươi hãy giết Hadi tại nơi bị cản trở đó, còn nếu không bị cản trở thì các ngươi hãy giết Hadi trong khu vực Haram vào ngày Eid Al-Adh-ha và các ngày Tashreeq (ngày 11, 12, 13). Ai đang hành hương thì bị bệnh hoặc bị ngứa da đầu, hãy cạo đầu và chuộc tội bằng một trong các hình thức: nhịn chay ba ngày hoặc xuất thức ăn cho sáu người nghèo hoặc giết mổ một con cừu lấy thịt phân phát cho người nghèo trong khu vực Haram. Trường hợp các ngươi không lo sợ, ai trong các ngươi muốn làm Hajj dạng Tamattu'a bằng cách thực hiện 'Umrah trong các tháng của Hajj để được tự do thoải mái khỏi những điều cấm của tình trạng Ihram thì y hãy giết một con cừu hoặc xuất một phần bảy con lạc đà hoặc một phần bảy con bò; nếu không có khả năng giết Hadi thì y hãy nhịn chay ba ngày trong những ngày hành hương và nhịn tiếp bảy ngày sau khi trở về nhà để thay thế việc giết Hadi, tổng cộng là mười ngày trọn vẹn. Việc thực hiện Hajj dạng Tamattu'a qua việc phải giết Hadi hoặc nhịn chay nếu không có khả năng giết Hadi là đối với những ai không phải là cư dân trong khu vực Al-Haram cũng như cư dân lân cận bởi vì cư dân trong khu vực Al-Haram cũng như cư dân lân cận không cần đến Hajj dạng Tamadtu'a, họ chỉ cần thực hiện Hajj (khi tới ngày) là đủ (được gọi là Hajj Ifrad). Các ngươi hãy kính sợ Allah mà tuân thủ giáo luật mà Ngài đã quy định, các ngươi hãy tôn trọng giới luật của Ngài, và các ngươi hãy biết rằng quả thật Allah rất nghiêm khắc trong việc trừng phạt những kẻ làm trái lệnh Ngài.
التفاسير العربية:
من فوائد الآيات في هذه الصفحة:
• مقصود الجهاد وغايته جَعْل الحكم لله تعالى وإزالة ما يمنع الناس من سماع الحق والدخول فيه.
* Mục đích và ý nghĩa của Jihad mà Allah sắc lệnh là để xóa bỏ mọi rào cản thiên hạ đến với chân lý Islam và qui phục Islam.

• ترك الجهاد والقعود عنه من أسباب هلاك الأمة؛ لأنه يؤدي إلى ضعفها وطمع العدو فيها.
* Việc từ bỏ Jihad và ngồi ở nhà an cư là một trong những nguyên nhân hủy hoại cộng đồng Islam, bởi lẽ nó sẽ dẫn đến sự suy yếu cộng đồng và có nguy cơ bị kẻ thù xem xâm hại.

• وجوب إتمام الحج والعمرة لمن شرع فيهما، وجواز التحلل منهما بذبح هدي لمن مُنِع عن الحرم.
* Bắt buộc hoàn thành hai trọn vẹn cả Hajj và 'Umrah đối với thực hiện trong lần đầu. Và được phép hủy cả hai khi bị cản trở đến Makkah bằng cách giết Hadi.


ٱلۡحَجُّ أَشۡهُرٞ مَّعۡلُومَٰتٞۚ فَمَن فَرَضَ فِيهِنَّ ٱلۡحَجَّ فَلَا رَفَثَ وَلَا فُسُوقَ وَلَا جِدَالَ فِي ٱلۡحَجِّۗ وَمَا تَفۡعَلُواْ مِنۡ خَيۡرٖ يَعۡلَمۡهُ ٱللَّهُۗ وَتَزَوَّدُواْ فَإِنَّ خَيۡرَ ٱلزَّادِ ٱلتَّقۡوَىٰۖ وَٱتَّقُونِ يَـٰٓأُوْلِي ٱلۡأَلۡبَٰبِ
197- Thời gian hành hương Hajj đã được qui định rõ ràng. Nó bắt đầu từ tháng Shauwal (tháng 10) đến ngày mồng mười tháng Zdul-Hijjah (tháng 12) theo niên lịch Islam. Ai bắt bản thân mình hành hương trong những tháng này và đã định tâm vào tình trạng Ehram thì y không được phép có các hành động mơn trớn và quan hệ tình dục với vợ của mình, không được phép làm điều tội lỗi nhằm tôn trọng thời gian và không gian thiêng liêng, và y không được phép tranh cãi dẫn đến xung đột do tức giận và nóng nảy. Và tất cả điều tốt đẹp mà các ngươi đã làm thì Allah đều biết rất rõ và Ngài sẽ ban thưởng đầy đủ cho các ngươi. Các ngươi hãy chuẩn bị hành trang như lương thực và các vật dụng cần thiết khác cho chuyến hành hương Hajj, tuy nhiên thứ tốt nhất để các ngươi chuẩn bị cho hành trang của mình chính là lòng Taqwa (ngay chính, kính sợ) Allah. Vì vậy, các ngươi hãy sợ TA mà tuân thủ đúng mọi mệnh lệnh của TA và hãy tránh xa mọi điều TA đã cấm, hỡi đám người có tâm trí lành mạnh.
التفاسير العربية:
لَيۡسَ عَلَيۡكُمۡ جُنَاحٌ أَن تَبۡتَغُواْ فَضۡلٗا مِّن رَّبِّكُمۡۚ فَإِذَآ أَفَضۡتُم مِّنۡ عَرَفَٰتٖ فَٱذۡكُرُواْ ٱللَّهَ عِندَ ٱلۡمَشۡعَرِ ٱلۡحَرَامِۖ وَٱذۡكُرُوهُ كَمَا هَدَىٰكُمۡ وَإِن كُنتُم مِّن قَبۡلِهِۦ لَمِنَ ٱلضَّآلِّينَ
198- Các ngươi sẽ không mắc tội khi các ngươi tìm kiếm bổng lộc Halal bằng việc kinh doanh mua bán trong suốt thời gian hành hương Hajj. Khi các ngươi rời 'Arafah sau khi đã có mặt tại đó vào ngày mồng chín để hướng đến Muzdalifah vào đêm mồng mười tháng Zdul-Hijjah thì các ngươi hãy tụng niệm Allah bằng Tasbih (nói Sub ha nol loh), Tahlil (Laa i laa ha il lol loh) và cầu xin, khấn vái tại Mash'ar Al-Haram ở Muzdalifah, các ngươi hãy tụng niệm Allah như đã được Ngài hướng dẫn các ngươi đến được các biểu hiệu của tôn giáo và được hành hương Hajj tại Ngôi Nhà của Ngài trong khi trước đó các ngươi là nhóm người mù tịt về các giáo lý của Ngài.
التفاسير العربية:
ثُمَّ أَفِيضُواْ مِنۡ حَيۡثُ أَفَاضَ ٱلنَّاسُ وَٱسۡتَغۡفِرُواْ ٱللَّهَۚ إِنَّ ٱللَّهَ غَفُورٞ رَّحِيمٞ
199- Rồi các n